Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tạo hệ sinh thái dữ liệu cho công nghiệp văn hóa

Số hóa dữ liệu văn hóa đang trở thành yêu cầu cấp bách trong quá trình thúc đẩy công nghiệp văn hóa tại Việt Nam hiện nay.

Tạo hệ sinh thái dữ liệu cho công nghiệp văn hóa

Dữ liệu văn hóa tạo nền tảng để phát huy giá trị văn hóa. Ảnh: Sở VHTT Hà Nội

Từ mũ miện của Vua Đinh Tiên Hoàng

Tại Lễ hội Hoa Lư 2026, sự xuất hiện của bộ phục trang của diễn viên đóng vai Vua Đinh Bộ Lĩnh đã gây xôn xao ngay sau khi lên sóng truyền hình trực tiếp. Tâm điểm là mũ miện của Vua Đinh. Trên các nền tảng mạng xã hội, nhiều ý kiến bày tỏ thắc mắc vì sao nhà vua đội mũ miện mà mũ lại... xoay ngang. Có người giải thích rằng mũ miện, còn gọi là mũ bình thiên, có một tấm hình chữ nhật phẳng trên đỉnh, đặt theo phương ngang nên gọi là “bình thiên”, tức phía trên đầu nhà vua bằng phẳng. Theo quy định, mũ có 12 dải tua kết bằng châu, ngọc ở trước mặt và sau gáy.

Những dải châu ngọc như tấm rèm che “long nhan”, ngăn bề tôi nhìn thẳng vào vua, đồng thời nhắc bậc đế vương phải giữ sự điềm tĩnh, công tâm, không bị cảm xúc nhất thời chi phối.

Tranh luận là thế nhưng cũng không ai thực sự biết mũ vua Đinh trông thế nào và phải đội ra sao.

Từ câu chuyện này, nhiều người nhắc đến bộ phim lịch sử “Lý Công Uẩn: Đường tới thành Thăng Long” đã không thể ra mắt đúng kế hoạch, thậm chí dù đã được đầu tư tới 100 tỉ đồng (số tiền rất lớn vào thời điểm năm 2009) nhưng vẫn bị dừng sóng ngay trước thềm Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. Một phần lý do là phục trang của phim bị cho là quá giống phim cổ trang của nước ngoài.

Đạo diễn - NSND Trọng Trinh nói rằng: “Có rất nhiều lý do khiến chúng tôi e ngại làm phim lịch sử về các triều đại. Khó khăn lớn nhất là tư liệu, hình ảnh khan hiếm. Đầu tư cho các dự án lịch sử lại rất lớn. Phim lịch sử cũng rất dễ bị cuốn vào tranh cãi”.

Những câu chuyện trên cho thấy, việc chuẩn hóa và số hóa dữ liệu văn hóa là đặc biệt cần thiết, nhất là trong lĩnh vực sân khấu, điện ảnh.

Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu cho công nghiệp văn hóa

Việc số hóa dữ liệu văn hóa ngày càng được quan tâm, nhất là sau khi Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được Chính phủ phê duyệt tháng 4.2026.

Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam cũng sẽ xây dựng Bản đồ dữ liệu văn hóa Việt Nam, kết nối dữ liệu bảo tàng, thư viện, xuất bản, di sản… phục vụ sản xuất phim, game, âm nhạc.

Theo NSND Vương Duy Biên, từ nay đến cuối năm 2026, Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam tập trung số hóa, chuẩn hóa và tạo nguồn kịch bản chất lượng cao; kết nối nguồn lực xã hội; triển khai các dự án hạ tầng, tác phẩm điện ảnh trọng điểm tầm quốc gia, quốc tế. Dự kiến, Bản đồ dữ liệu văn hóa Việt Nam hoàn thành vào năm 2030.

Ở góc độ địa phương, Hà Nội và TPHCM đang có những động thái quyết liệt để tiến hành số hóa dữ liệu văn hóa.

Giữa tháng 5.2026, các chuyên gia, nhà quản lý và nhà khoa học đã thảo luận giải pháp xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê chuyên biệt, phục vụ quản lý, hoạch định chính sách và đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của Hà Nội.

Lãnh đạo Phòng Quản lý di sản thuộc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội cho rằng: “Số hóa không đơn thuần là lưu trữ dữ liệu, mà còn mở ra khả năng tạo ra các sản phẩm văn hóa mới trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác, nghệ thuật biểu diễn hay du lịch văn hóa. Khi đó, di sản không chỉ là ký ức quá khứ mà có thể trở thành nguồn lực kinh tế cho hiện tại”.

Còn tại TPHCM, ngày 23.7, tọa đàm “Số hóa dữ liệu văn hóa, du lịch TPHCM” cũng đã được tổ chức. Tại tọa đàm này, TS Mã Thanh Cao - nguyên Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM - cho rằng, với di sản phi vật thể như cải lương, hát bội, đờn ca tài tử hay các lễ hội truyền thống, việc ghi hình, ghi âm và lưu trữ kịp thời là yêu cầu cấp thiết trước nguy cơ mai một.

Theo Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, mục tiêu đặt ra là hiện đại hóa toàn diện hệ sinh thái văn hóa số quốc gia nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu sáng tạo và chủ động hội nhập quốc tế.

Đồng thời, đề án hướng tới việc đưa văn hóa số trở thành nguồn lực mới cho phát triển bền vững; thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa; bảo đảm tài nguyên văn hóa được số hóa rộng rãi, chia sẻ hiệu quả, phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội.

Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% lĩnh vực văn hóa có nền tảng số dùng chung; toàn bộ di sản đã số hóa được chuẩn hóa, chia sẻ dữ liệu; 80% di sản số công cộng có mã định danh để xác lập quyền sở hữu, quản lý khai thác và thúc đẩy thị trường.

Thích

Tin liên quan