
Vào mỗi mùa khô, người dân trên địa bàn thường xuyên thiếu nước sinh hoạt lẫn tưới tiêu cho cây trồng. Ảnh: Bảo Trung
Ruộng đồng hoang hóa vì thiếu nước
Tháng 4.2026, giữa cái nắng gay gắt của mùa khô, vùng biên xã Ia Rvê như bị “rang” dưới nền nhiệt cao, cỏ cây vàng úa, đất đai khô khốc. Những con đường đất đỏ vốn nhộn nhịp xe chở mía nay phủ kín bụi, bám vào từng mái nhà, góc bếp, khiến không gian càng thêm ngột ngạt.
Trong bối cảnh ấy, thiếu nước sạch không còn là nỗi lo nhất thời mà đã trở thành áp lực thường trực với hàng nghìn hộ dân. Anh Nguyễn Văn Chinh (thôn 2) chia sẻ, từ khi được cấp 1ha đất sản xuất năm 2010, gia đình anh vẫn chưa thể thoát nghèo. Nguyên nhân lớn nhất là thiếu nước. Mỗi mùa khô, đất đai nứt nẻ, không thể canh tác, vợ chồng anh phải đi làm thuê để nuôi hai con. Vào cao điểm hạn hán, người dân phải đi xa hàng cây số chở nước hoặc mua với chi phí cao. Với các hộ nghèo, cận nghèo, đây là gánh nặng buộc họ phải tiết giảm tối đa sinh hoạt.
Bà Lương Thị Hoài - một hộ nghèo trong xã - cũng rơi vào cảnh tương tự. Suốt 20 năm, gia đình bà phải mượn đất canh tác, mỗi năm chỉ làm được một vụ hè thu; khoảng 4 tháng mùa khô, đất bỏ hoang, cả nhà đi làm thuê mưu sinh.
Thực tế, vào mùa khô, nhiều ao hồ, kênh mương ở Ia Rvê cạn trơ đáy, các con suối nhỏ cũng chỉ còn lớp bùn nứt nẻ. Ông Nguyễn Quang Tuấn - Trưởng phòng Kinh tế xã Ia Rvê - thông tin, dù chưa vào đỉnh điểm hạn hán, nhiều kênh mương đã cạn. Người dân chủ yếu trồng cây chịu hạn như mía, thuốc lá nhưng hiệu quả thấp. Mong muốn chuyển sang cây trồng giá trị cao hơn như dưa hấu, cà phê vẫn gặp nhiều trở ngại do thiếu nước.
800 nhân khẩu thiếu nước sinh hoạt trầm trọng
Theo người dân nơi đây, từ tháng 4 đến tháng 5 hằng năm là thời điểm khô hạn gay gắt nhất ở Ia Rvê. Khi đó, không chỉ sản xuất mà cả sinh hoạt đều thiếu nước nghiêm trọng. Nguồn nước sinh hoạt trở thành bài toán nan giải.
Tại thôn 13, ông Lê Minh Hiền cho biết, dù có tuyến kênh mương chính tây dài 32km dẫn nước từ hồ Ea Súp Thượng, nhưng hiệu quả hạn chế; mùa khô nhiều đoạn kênh cạn trơ đáy. Không có nước máy, nhiều hộ phải dùng nước giếng khoan nhiễm phèn, nhiễm vôi, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe. Khi đun sôi, nước để lại lớp cặn trắng dưới đáy.
Những ngày cao điểm, các hộ khá giả phải mua nước với chi phí cao; còn nhiều gia đình trông chờ vào xe bồn của lực lượng bộ đội biên phòng, công an - những “mạch nước cứu sinh” đến từng nhà.
Từ năm 2020, nhà máy nước ở địa phương được đưa vào vận hành với công suất thiết kế khoảng 650m3 ngày đêm, đủ cấp cho hơn 1.000 hộ. Tuy nhiên, do thiếu kinh phí và nguồn nước đầu vào, mùa khô chỉ phục vụ khoảng 200 hộ. Sự chênh lệch này cho thấy bất cập trong đầu tư và khai thác công trình cấp nước tại vùng khô hạn.
Ông Nguyễn Văn Hoa - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ia Rvê - kiến nghị, địa phương mong sớm được nâng cấp nhà máy, hoàn thiện hệ thống đường ống để mở rộng phạm vi cấp nước, giúp người dân tiếp cận nguồn nước sạch ổn định hơn. Qua đó, giảm nguy cơ bệnh tật, cải thiện đời sống người dân.
Ia Rvê là xã biên giới giáp Campuchia, diện tích hơn 217km2, có hơn 6.700 người tại 12 thôn, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số. Vào mùa khô, toàn xã chỉ có một tuyến kênh mương và một đập chứa nước phục vụ sản xuất, trong khi nhiều hồ chứa khác cạn trơ đáy. Đáng lo ngại, các thôn 1, 2 và 4 thường xuyên thiếu nước sinh hoạt do mạch nước ngầm cạn kiệt; khoảng 200 hộ, gần 800 nhân khẩu đang thiếu nước trầm trọng.

