Cách tiếp cận mới bảo đảm chất lượng giáo dục đại học
Cách tiếp cận mới được kỳ vọng tạo nền tảng cho cải tiến chất lượng thực chất, minh bạch, bền vững trong hệ thống giáo dục đại học...
![]() |
| Giờ học tại Trường Đại học Thủy lợi. Ảnh: NTCC |
Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong tư duy bảo đảm chất lượng, khi gỡ bỏ gánh nặng trong công tác kiểm định chất lượng, chuyển hoạt động kiểm định từ “thủ tục hành chính” sang hoạt động “đánh giá khoa học”.
Giảm tải cho cơ sở, nâng yêu cầu với tổ chức kiểm định
Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo xác định việc “bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính”.
Ông Trương Quốc Quân - Trưởng phòng Khảo thí và bảo đảm chất lượng, Trường Đại học Thủy lợi cho biết, thống nhất với tinh thần chỉ đạo này, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) tăng cường rõ nét tính tự chủ và giảm tải đáng kể gánh nặng cho cơ sở giáo dục đại học trong công tác bảo đảm chất lượng đào tạo nói chung, kiểm định chất lượng nói riêng.
Phân tích những điểm mới trong công tác đảm bảo chất lượng tại Luật Giáo dục đại học (sửa đổi), ông Trương Quốc Quân nhấn mạnh đến việc tăng tính tự chủ và giảm tải cho các cơ sở giáo dục, nâng cao yêu cầu với các tổ chức kiểm định chất lượng.
Cụ thể, thực hiện Luật Giáo dục đại học (sửa đổi), cơ sở giáo dục đại học phải tập trung nguồn lực bảo đảm điều kiện về chuẩn cơ sở giáo dục đại học. Đây là cơ sở quan trọng nhất, làm căn cứ để quy hoạch mạng lưới, đầu tư phát triển, cấp phép, thu hồi cấp phép hoạt động, đình chỉ tuyển sinh. Bên cạnh đó, tập trung đánh giá chất lượng phục vụ cho cải tiến chất lượng, thực hiện trách nhiệm giải trình, cơ sở giáo dục được tự chủ trong công tác tổ chức và nhân sự.
Cơ sở giáo dục đại học đồng thời phải chú trọng xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong mạnh mẽ, hiệu quả để phát triển văn hóa chất lượng và cải tiến chất lượng liên tục.
Luật ghi rõ, hệ thống này được xây dựng và vận hành với đầy đủ các thành phần cốt lõi bao gồm: Con người, chính sách, công cụ, hệ thống thông tin, tài chính và cơ sở vật chất. Khi xây dựng, vận hành hệ thống này đúng hướng, công tác cải tiến chất lượng sẽ trở nên thực chất, hiệu quả hơn nhiều do dựa trên nguồn dữ liệu đầu vào đầy đủ, tin cậy.
Về giảm tải, theo ông Trương Quốc Quân, quy định mới gỡ bỏ gánh nặng trong công tác kiểm định chất lượng. Cơ sở giáo dục đại học chỉ còn phải thực hiện kiểm định chất lượng ở cấp cơ sở giáo dục và các chương trình đào tạo đặc thù như đào tạo giáo viên, sức khỏe, pháp luật cùng một số chương trình đào tạo khác do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định.
Quy định “trước khi khóa đầu tiên tốt nghiệp, chương trình đào tạo phải được đánh giá chất lượng; ngay sau khi khóa đầu tiên tốt nghiệp, chương trình đào tạo phải được kiểm định” tại Luật Giáo dục đại học 2018 đã được gỡ bỏ. Cùng đó, toàn bộ các chế tài hậu kiểm định chất lượng các chương trình đào tạo, như quyền tự chủ mở chương trình đào tạo, đình chỉ tuyển sinh hoặc đình chỉ hoạt động đào tạo, việc phân cấp tự chủ dựa trên kết quả kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục, cũng được gỡ bỏ.
“Một điểm đáng chú ý khác trong Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) là quy định rõ tổ chức kiểm định chất lượng phải độc lập về chuyên môn, tổ chức và tài chính theo quy định của pháp luật. Đây có thể coi là “chốt chặn” an toàn để bảo vệ sự liêm chính của hoạt động giáo dục đại học; chuyển hoạt động kiểm định từ một “thủ tục hành chính” sang hoạt động “đánh giá khoa học”, giúp sàng lọc và nâng cao chất lượng giáo dục thực sự”, ông Trương Quốc Quân đánh giá.
Cũng có những đánh giá tích cực, bà Nguyễn Kim Dung - Luật sư, Giám đốc Pháp chế Trường Đại học Anh quốc Việt Nam nhận định, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) đánh dấu bước chuyển quan trọng trong bảo đảm chất lượng, từ các quy định mang tính khung sang xây dựng hệ thống quản trị chất lượng cụ thể, hiện đại và gắn với trách nhiệm giải trình.
So với Luật Giáo dục đại học 2018, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) năm 2025 tách bạch rõ giữa đánh giá chất lượng và kiểm định chất lượng, xác định tự đánh giá là công cụ quản lý thường xuyên nhằm phục vụ cải tiến nội bộ và công khai thông tin với xã hội. Đồng thời, Luật mở rộng việc áp dụng tiêu chuẩn đánh giá, kiểm định thông qua công nhận tiêu chuẩn trong và ngoài nước, điều chỉnh đối tượng bắt buộc kiểm định theo hướng tập trung vào các ngành có tác động xã hội lớn như sư phạm, sức khỏe, pháp luật.

Ảnh minh họa INT.
Để quy định mới phát huy hiệu quả
Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) đánh dấu một bước tiến quan trọng khi luật hóa khá đầy đủ hoạt động bảo đảm chất lượng giáo dục đại học, đặc biệt là quy định về hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục đại học; đồng thời gắn kết chặt chẽ giữa tự chủ đại học, trách nhiệm giải trình và kiểm định chất lượng.
Tuy nhiên, để các quy định mới này thực sự đi vào cuộc sống, từ góc nhìn của người làm công tác bảo đảm, kiểm định chất lượng, PGS.TS Nguyễn Thị Hòa - Trưởng phòng Khảo thí và đảm bảo chất lượng, Trường Đại học Giao thông vận tải cho rằng, điều quan trọng là phải có cách triển khai đồng bộ, thực chất, tránh tình trạng hình thức hoặc chồng chéo trong tổ chức thực hiện.
Thông điệp cốt lõi cần được lan tỏa là: Bảo đảm chất lượng không phải việc riêng của phòng bảo đảm chất lượng, mà là trách nhiệm của mọi thành viên và là cách để mỗi cơ sở giáo dục đại học tự học, tự điều chỉnh, phát triển bền vững.
Đề xuất cho vấn đề này, ông Trương Quốc Quân kiến nghị Bộ GD&ĐT nhanh chóng ban hành một số quy định/thông tư/hướng dẫn… về công tác bảo đảm chất lượng như: Các bộ tiêu chuẩn kiểm định chuyên biệt cho từng loại hình đào tạo (trực tiếp, trực tuyến, từ xa) và từng nhóm ngành đặc thù (nghệ thuật, y dược, an ninh quốc phòng…), chuẩn chương trình đào tạo theo từng nhóm ngành, danh sách chương trình đào tạo cần thực hiện kiểm định chất lượng…
Bộ GD&ĐT cũng cần xem xét tích hợp hệ thống Hemis với các tiêu chuẩn về chuẩn cơ sở giáo dục, hay các bộ tiêu chuẩn về kiểm định chất lượng. Mục đích, khi cơ sở giáo dục upload dữ liệu lên hệ thống, có thể nhận thấy ngay mức độ đáp ứng của mình với các tiêu chuẩn này, từ đó có giải pháp nhanh chóng để cải thiện.
Các chương trình hội thảo/tọa đàm về bảo đảm chất lượng, hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, xây dựng văn hóa chất lượng… cần được Bộ GD&ĐT thường xuyên tổ chức để nâng cao mặt bằng chung nhận thức về công tác này cho hệ thống cơ sở giáo dục đại học.
Về phía cơ sở giáo dục đại học, theo ông Trương Quốc Quân, cần nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của mình với xã hội; phân bổ nguồn lực và xây dựng kế hoạch hợp lý để hình thành văn hóa chất lượng; xây dựng, phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, triển khai công tác đánh giá chất lượng…
“Cần ban hành khung hướng dẫn chuẩn về chu kỳ, quy trình, minh chứng và công khai kết quả tự đánh giá; quy định tự đánh giá là điều kiện đầu vào của kiểm định. Đồng thời, làm rõ việc sử dụng kết quả tự đánh giá trong phân tầng, xếp hạng, giao quyền tự chủ và thiết lập cơ chế hậu kiểm nhằm bảo đảm tính trung thực, trách nhiệm giải trình”, bà Nguyễn Kim Dung cho biết.













