
Bệnh viện tự chủ là xu hướng phù hợp, nhằm giảm gánh nặng ngân sách và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Ảnh: Đức Vân
Chủ trương xã hội hóa, giảm chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực sự nghiệp công lập đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng đặt ra từ sớm, đặc biệt tại Thông báo số 37-TB/TW năm 2011 của Bộ Chính trị về Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”.
Một trong những mô hình triển khai hiệu quả chủ trương này là bệnh viện tự chủ trường đại học.
Tự chủ là yêu cầu từ thực tiễn
Thực tế cho thấy, việc đầu tư bằng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực y tế nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ rất dễ phát sinh sai phạm.
Đầu tháng 3.2026, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành cáo trạng liên quan đến sai phạm tại Dự án cơ sở 2 của Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Việt Đức, trong đó một số cán bộ bị truy tố về tội vi phạm quy định quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí.
Những vụ việc này một lần nữa cho thấy yêu cầu cấp thiết phải đổi mới cơ chế đầu tư, quản lý trong lĩnh vực y tế công. Thực tế, từ năm 2011, Bộ Chính trị đã định hướng rõ: Nhà nước giữ vai trò chủ đạo nhưng đồng thời khuyến khích huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
Tiếp đó, Nghị quyết 93/NQ-CP năm 2014 của Chính phủ đã mở rộng hành lang pháp lý, cho phép các cơ sở y tế công lập, đặc biệt là các trường đại học y dược, được vay vốn, liên doanh, liên kết để đầu tư phát triển cơ sở khám chữa bệnh theo mô hình linh hoạt, phù hợp thực tiễn.
Theo các chuyên gia, y tế là lĩnh vực đặc thù, đòi hỏi nguồn lực lớn và liên tục đổi mới. Các trường đại học y dược lại là nơi tập trung đội ngũ nhân lực chất lượng cao, có khả năng nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật tiên tiến. Khi được trao quyền tự chủ, các đơn vị này không chỉ nâng cao chất lượng khám chữa bệnh mà còn tạo nguồn thu để tái đầu tư cho đào tạo, nghiên cứu và hỗ trợ người yếu thế.
Đáng chú ý, cơ chế tự chủ cũng tạo ra áp lực tích cực. Khi đơn vị phải “tự lo” tài chính, việc chi tiêu, đầu tư buộc phải cân nhắc hiệu quả, minh bạch hơn, giảm nguy cơ lãng phí, tiêu cực.

Mô hình bệnh viện đại học tạo nguồn thu hàng nghìn tỉ đồng mỗi năm
Thực tế triển khai cho thấy, nhiều bệnh viện đại học tại Việt Nam đã vận hành hiệu quả theo cơ chế tự chủ.
Tiêu biểu là Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM - đơn vị trực thuộc Trường Đại học Y Dược TP.HCM. Thành lập từ năm 1994, bệnh viện hiện là một trong những cơ sở y tế hàng đầu phía Nam, mỗi năm phục vụ hơn 2 triệu lượt khám ngoại trú, đồng thời đi đầu trong ứng dụng kỹ thuật cao và đào tạo nhân lực y tế.
Tương tự, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cũng hoạt động theo mô hình tự chủ tài chính, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu và khám chữa bệnh. Với đội ngũ giảng viên, chuyên gia đầu ngành, bệnh viện không chỉ đảm bảo chất lượng chuyên môn mà còn tạo nguồn thu hàng nghìn tỉ đồng mỗi năm, góp phần giảm áp lực cho ngân sách nhà nước.
Theo ông Bùi Sỹ Lợi - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội (nay là Ủy ban Xã hội), sự phát triển của các bệnh viện tự chủ đã tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa khu vực công và tư, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ, mang lại lợi ích trực tiếp cho người bệnh.
Tại Đại học Quốc gia Hà Nội, mô hình bệnh viện tự chủ cũng được triển khai từ năm 2011. Sau hơn một thập kỷ, bệnh viện đã cơ bản hoàn thiện giai đoạn I, duy trì hoạt động ổn định, tạo việc làm cho hàng trăm cán bộ, giảng viên. Đơn vị đang chuẩn bị đầu tư giai đoạn II tại Hòa Lạc theo quy hoạch.

Xu hướng tất yếu
Trên thế giới, mô hình bệnh viện đại học đã phát triển phổ biến. Nhiều trường đại học lớn sở hữu hệ thống bệnh viện riêng, phục vụ đồng thời ba mục tiêu: đào tạo - nghiên cứu - điều trị. Như Đại học Johns Hopkins (Mỹ) sở hữu nhiều bệnh viện thành viên; hay tại Trung Quốc, một số đại học lớn quản lý hàng chục bệnh viện trực thuộc.
Thực tiễn trong nước và quốc tế cho thấy, mô hình bệnh viện đại học tự chủ không chỉ giúp giảm gánh nặng ngân sách mà còn nâng cao hiệu quả quản trị, hạn chế rủi ro trong đầu tư công.
Quan trọng hơn, người hưởng lợi cuối cùng chính là người dân - khi được tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng cao, minh bạch và bền vững hơn.

