Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tạo đòn bẩy để văn hóa đóng góp 7% GDP

Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Bộ VHTTDL cho rằng, cần sớm ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.

Tạo đòn bẩy để văn hóa đóng góp 7% GDP

“Anh trai say hi” là chương trình truyền hình thực tế thuần Việt 100%, do DatVietVAC sáng tạo và sản xuất, mở ra hướng đi mới cho ngành công nghiệp giải trí Việt Nam. Ảnh: NXS cung cấp

Sớm lấp đầy các khoảng trống

Tại phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và triển khai nhiệm vụ công tác trong thời gian tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đề cập tới 4 khoảng trống cần được nhận diện đầy đủ và sớm khắc phục. Trong đó, khoảng trống thứ 4 được đề cập là thể chế và hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa.

“Nghị quyết đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045, trong khi tỉ trọng hiện nay mới chỉ đạt khoảng 4% GDP. Khoảng cách ấy cho thấy chúng ta vẫn thiếu một hệ sinh thái đồng bộ về thể chế, thị trường, dữ liệu, nhân lực và cơ chế huy động nguồn lực để chuyển hóa sức sáng tạo văn hóa thành sức sản xuất mới và động lực tăng trưởng của quốc gia”- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói.

Thể chế cho công nghiệp văn hóa đang là một “nút thắt”. Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng nhận định: Công nghiệp văn hóa chiếm tỉ trọng tối thiểu 7% GDP hằng năm càng sớm càng tốt, thay vì chờ đến năm 2030.

Tuy nhiên, ông Dũng cũng cho rằng, mỗi ngành công nghiệp văn hóa đã, đang chịu điều chỉnh của một hoặc nhiều luật chuyên ngành khác nhau. Vì vậy, để đảm bảo khả thi, đồng bộ trong hệ thống pháp luật Việt Nam, phương pháp xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng dựa trên nguyên tắc tiếp cận công nghiệp văn hóa là chuỗi giá trị để thúc đẩy phát triển từ góc độ phát triển một ngành kinh tế chiến lược, kiên quyết không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Đinh Bá Thành - Chủ tịch sáng lập DatVietVAC (nhà sản xuất loạt show Anh trai say hi, Em xinh say hi) cho hay, nhiều năm qua Việt Nam đã chứng minh được năng lực sản xuất các chương trình giải trí có sức lan tỏa lớn, thu hút hàng triệu khán giả và tạo hiệu ứng mạnh trên các nền tảng số. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở việc gia công format hoặc khai thác doanh thu một lần từ chương trình thì giá trị tạo ra vẫn rất hữu hạn. Theo ông Thành, các doanh nghiệp tham gia lĩnh vực công nghiệp văn hóa cần có những “biệt đãi”.

Còn NSND Vương Duy Biên - nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam - lại rất thẳng thắn khi cho hay: Trong khi chủ trương xã hội hóa đã được xác định từ nhiều năm, hệ thống chính sách về hợp tác công - tư, khai thác tài sản công, cơ chế tài chính hay quyền tự chủ của các đơn vị văn hóa vẫn còn những khoảng trống lớn, khiến nguồn lực xã hội chưa được huy động tương xứng với tiềm năng.

Vì thế, theo ông Biên, thị trường văn hóa đang bị phân cực, manh mún. Khối doanh nghiệp lớn tự bỏ vốn xây dựng các tổ hợp sự kiện khép kín biệt lập; ngược lại, khối doanh nghiệp vừa và nhỏ được coi là hạt nhân sáng tạo đô thị lại có sự e ngại vì một số vướng mắc khi muốn tiếp cận dòng vốn công. Các ý tưởng dù xuất sắc cũng đành chấp nhận dừng lại ở quy mô dự án ngắn hạn, thay vì hình thành chuỗi giá trị bền vững từ sáng tạo, đầu tư đến tiêu dùng.

Trình Quốc hội Luật phát triển Công nghiệp văn hóa theo trình tự, thủ tục rút gọn

Về mặt thể chế, không phải là không có những chuyển biến. Chẳng hạn như ngay đầu tháng 7.2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 277/2026/NĐ-CP, quy định cụ thể chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và thu hút đầu tư trong lĩnh vực văn hóa số. Thế nhưng, Nghị định cũng chỉ dừng lại ở một chính sách mang tính ưu đãi, hỗ trợ chưa trở thành một cú hích thực sự.

Chủ tịch sáng lập DatVietVAC Đinh Bá Thành kỳ vọng Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa sẽ sớm tạo ra những “kỳ lân công nghiệp văn hóa”.

“Nếu không có kỳ lân công nghiệp văn hóa, sẽ không có công nghiệp văn hóa cạnh tranh toàn cầu” - ông Thành nhấn mạnh.

Việc sớm xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là yêu cầu cấp bách. Thông báo số 12-TB/BCĐTW ngày 30.7.2026 xác định công nghiệp văn hóa là động lực tăng trưởng mới, đồng thời yêu cầu hoàn thiện dự án luật để trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai vào tháng 10.2026 theo thủ tục rút gọn.

Theo Bộ VHTTDL, dự án luật tập trung vào các chính sách lớn: Tài sản trí tuệ văn hóa; hạ tầng công nghiệp văn hóa; nhân lực và nhân tài; thị trường công nghiệp văn hóa; thu hút đầu tư nước ngoài. Cách tiếp cận xuyên suốt là theo chuỗi giá trị, lấy doanh nghiệp và người sáng tạo làm trung tâm, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt.

Vai trò kiến tạo của Nhà nước trong phát triển công nghiệp văn hóa

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cạnh tranh giữa các quốc gia hiện không chỉ diễn ra về kinh tế, công nghệ mà còn ở giá trị văn hóa và sức ảnh hưởng của công nghiệp văn hóa. Nhiều nước đã xác định đây là ngành kinh tế quan trọng và ưu tiên xây dựng chính sách hỗ trợ.

Hàn Quốc ban hành Luật khung về thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa từ năm 1999. Trung Quốc dù chưa có luật riêng nhưng đã ban hành nhiều văn bản dưới luật nhằm tạo hành lang phát triển lĩnh vực này.

Mới đây, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc cùng Ủy ban Dịch vụ Tài chính công bố thành lập Quỹ K-Culture Value-Up trị giá 150 tỉ won, tương đương 108 triệu USD. Đây là quỹ đầu tư công - tư lớn nhất từ trước đến nay của Hàn Quốc dành riêng cho công nghiệp văn hóa và sáng tạo.

Theo kế hoạch, Chính phủ Hàn Quốc đóng góp 50 tỉ won từ ngân sách; Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc và Quỹ Công nghiệp chiến lược tiên tiến đầu tư thêm 30 tỉ won. Nguồn vốn này được kỳ vọng thu hút hơn 70 tỉ won từ khu vực tư nhân.

Đáng chú ý, khoảng 100 tỉ won, tương đương hai phần ba quy mô quỹ, được dành cho các dự án liên quan đến trí tuệ nhân tạo và sở hữu trí tuệ. Các đơn vị quản lý quỹ phải dành ít nhất 25% vốn cho doanh nghiệp ứng dụng AI trong sáng tạo nội dung hoặc khai thác tài sản trí tuệ ở các lĩnh vực âm nhạc, điện ảnh, trò chơi điện tử và video. Khoảng 50 tỉ won còn lại hỗ trợ sản xuất, phân phối nội dung truyền thống.

Tại Trung Quốc, cuối tháng 7.2026, nước này mở dữ liệu về các di tích văn hóa thuộc sở hữu Nhà nước nhằm thúc đẩy khai thác, phát triển tài sản trí tuệ văn hóa.

Việc hai nền công nghiệp văn hóa hàng đầu châu Á đồng loạt ban hành chính sách lớn về AI và sở hữu trí tuệ cho thấy vai trò dẫn dắt, kiến tạo của Nhà nước ngày càng rõ nét. Việt Nam vì vậy cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế đầu tư, chính sách tín dụng, dữ liệu và bảo hộ sở hữu trí tuệ để tạo động lực cho công nghiệp văn hóa phát triển, tránh chậm nhịp trong cuộc cạnh tranh khu vực. Thu Minh

Thích

Tin liên quan