A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Người phụ nữ dành gần nửa đời người níu giữ hồn dân ca Kinh Bắc

Suốt 35 năm qua, một người phụ nữ ở Từ Sơn vẫn bền bỉ cất cao câu hát đối đáp, nuôi dưỡng khát vọng gìn giữ và trao truyền di sản dân ca quê hương.

Sinh ra và lớn lên bên triền sông Cầu, trong không gian văn hóa của Dân ca Quan họ Bắc Ninh, chị Nguyễn Thị Thùy (44 tuổi, trú tại Từ Sơn, Bắc Ninh) sớm thấm đẫm những làn điệu mượt mà, đằm thắm của quê hương.

Mới 8 tuổi, chị đã theo các liền anh, liền chị trong làng đi hát giao duyên mỗi dịp hội xuân, bắt đầu hành trình gắn bó suốt đời với câu ca quan họ.

Bà Nguyễn Thị Thùy và ông Nguyễn Văn Mạnh - hai nghệ nhân tâm huyết, lặng lẽ gìn giữ và lan tỏa những làn điệu Dân ca Quan họ Bắc Ninh qua từng câu hát giao duyên ngọt ngào. Ảnh: Minh Vũ
Chị Nguyễn Thị Thùy (trái) - người phụ nữ tâm huyết, lặng lẽ gìn giữ và lan tỏa những làn điệu Dân ca Quan họ Bắc Ninh qua từng câu hát giao duyên ngọt ngào. Ảnh: Minh Vũ

“Dù hát trên thuyền, hát trên bờ hay ở bất cứ không gian nào thì đó cũng là cách quảng bá hình ảnh Bắc Ninh. Những dịp hội như hội Lim, được cùng các anh chị đi trẩy hội, được hát cho mọi người nghe, được mời miếng trầu quan họ, mang đến niềm vui cho người đi hội, đó là hạnh phúc lớn lắm”, chị Thùy chia sẻ.

Với chị, mỗi canh hát không chỉ là cuộc giao duyên bằng lời ca tiếng hát, mà còn là lần trở về với ký ức bến nước, sân đình, với những đêm hát thâu canh suốt sáng.

Những liền anh, liền chị say sưa cất câu quan họ trên thuyền, để làn điệu Dân ca Quan họ Bắc Ninh ngân vang. Ảnh: Minh Vũ
Những liền anh, liền chị say sưa cất câu quan họ trên thuyền, để làn điệu Dân ca Quan họ Bắc Ninh ngân vang. Ảnh: Minh Vũ

Năm 2009, khi Quan họ Bắc Ninh được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, niềm tự hào trong chị càng lớn. Nhưng đi cùng tự hào là nỗi trăn trở về trách nhiệm gìn giữ và trao truyền di sản.

Theo chị Thùy, giá trị cốt lõi của quan họ nằm ở lối hát đối đáp tinh tế, ở từng câu ca, ở phong tục mời trầu, cách xưng hô “liền anh”, “liền chị” đầy nghĩa tình. Tuy nhiên, giữa nhịp sống hiện đại, không ít người trẻ chỉ biết đến quan họ qua sân khấu hóa mà chưa thực sự hiểu sâu về lề lối, nghi thức và chiều sâu văn hóa của loại hình này.

“Có những làn điệu cổ rất khó. Nếu không truyền dạy kịp thời thì vài chục năm nữa có thể sẽ thất truyền. Quan họ không chỉ cần kỹ thuật mà còn cần tình yêu và sự đam mê từ sớm, nếu bắt đầu quá muộn sẽ rất khó để hát đúng chất”, chị Thùy bày tỏ.

Hơn gần 40 năm qua, chị miệt mài tham gia câu lạc bộ quan họ của thôn, trực tiếp truyền dạy miễn phí cho lớp trẻ. Từ vài học trò ban đầu, đến nay lớp học đã có hàng chục học sinh, sinh viên theo học đều đặn mỗi tuần.

Không chỉ dạy hát, chị còn hướng dẫn các em cách ứng xử, cách mời trầu, cách mặc trang phục truyền thống - những yếu tố làm nên hồn cốt của người quan họ.

Chị ấp ủ mong muốn xây dựng một không gian sinh hoạt quan họ đúng nghĩa, nơi người trẻ được thực hành hát đối đáp trong bối cảnh gần với truyền thống nhất.

“Giữ di sản không phải chỉ để biểu diễn trên sân khấu, mà để người trẻ hiểu, yêu và tự hào về cội nguồn. Khi được lắng nghe, được tìm hiểu, tôi tin rằng ai cũng sẽ yêu mến quan họ”, chị nói.

Với chị Thùy, việc UNESCO công nhận quan họ là niềm vinh dự lớn, nhưng cũng là động lực để những người trong cuộc nỗ lực hơn trong quảng bá, lan tỏa.

“Đã được thế giới ghi nhận thì mình càng phải giới thiệu để nhiều người, trong và ngoài nước, biết đến và chạm tới giá trị của quan họ. Tôi tin ai nghe rồi cũng sẽ yêu”, chị khẳng định.

Bốn mươi năm trôi qua, mái tóc đã điểm bạc, nhưng mỗi khi cất câu “Ngồi tựa mạn thuyền”, ánh mắt chị vẫn ánh lên niềm say mê như thuở thiếu thời. Với chị Thùy, còn sức là còn hát, còn truyền dạy, để những làn điệu quan họ mãi ngân vang giữa miền Kinh Bắc.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan