Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Tháo gỡ 'điểm nghẽn', tạo chuyển biến trong năm học mới

Bước vào năm học 2026 - 2027, yêu cầu đổi mới giáo dục không chỉ dừng ở thay đổi cách nghĩ, cách làm mà phải được đo bằng những kết quả thực chất.

Giáo viên Trường Tiểu học và THCS Tân Khai (Vĩnh Hưng, Hà Nội) đón học sinh lớp 1. Ảnh: TG
Giáo viên Trường Tiểu học và THCS Tân Khai (Vĩnh Hưng, Hà Nội) đón học sinh lớp 1. Ảnh: TG

Theo đó, cần nhận diện những điểm nghẽn để có giải pháp tháo gỡ, tạo chuyển biến ngay từ năm học mới.

Bài toán về nguồn lực

Năm học 2026 - 2027 đặt ra yêu cầu cao về bản lĩnh quản trị và năng lực chuyên môn của ngành Giáo dục. Sau nhiều năm triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018, bà Tăng Thị Ngọc Mai - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Trà Vinh (cũ) nhận thấy, những đổi mới đã đi vào từng lớp học, giờ dạy và chuyển biến rõ nét trong kết quả học tập, rèn luyện của học sinh.

Song, thách thức đặt ra là: Hệ thống giáo dục có đủ nguồn lực để thực hiện đồng thời nhiều yêu cầu mới hay không? Đây cũng là bài toán lớn khi ngành Giáo dục vẫn chịu áp lực về tình trạng mất cân đối đội ngũ giáo viên. Thiếu giáo viên cục bộ tiếp tục diễn ra, nhất là ở một số môn học mới, môn tích hợp như: Kinh tế và Pháp luật, Nghệ thuật, Tin học. Nhu cầu giáo viên tiếng Anh cũng ngày càng tăng khi chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học được đẩy mạnh.

Vì thế, bà Tăng Thị Ngọc Mai cho rằng, bài toán nhân lực không chỉ nằm ở số lượng mà còn ở cơ cấu chuyên môn, phân bổ giữa các địa bàn và khả năng đáp ứng yêu cầu mới của chương trình. Có nơi thiếu giáo viên, trong khi nơi khác khó bố trí đủ việc làm; một số môn thiếu kéo dài nhưng tuyển dụng mới không dễ dàng.

Trong năm học mới, giáo viên tiếp tục đảm nhận thêm nhiều nhiệm vụ như dạy học 2 buổi/ngày, phát triển năng lực học sinh, tổ chức hoạt động trải nghiệm, giáo dục STEM, ngoại ngữ, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI). Những yêu cầu này đòi hỏi giáo viên không chỉ có năng lực chuyên môn mà còn cần thêm thời gian chuẩn bị và các điều kiện hỗ trợ phù hợp.

Theo TS Lê Đức Thuận - nguyên Trưởng phòng GD&ĐT quận Ba Đình (cũ), Hà Nội, áp lực lớn xuất hiện khi nhiều nhiệm vụ mới được triển khai đồng thời. Tuy nhiên, thách thức sâu xa hơn là chuyển từ quản lý thiên về thủ tục, kiểm tra tuân thủ và xử lý sự vụ sang quản trị giáo dục thực chất, trong đó xác lập mục tiêu rõ ràng, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, sử dụng dữ liệu để ra quyết định, dự báo rủi ro và cải tiến liên tục.

thao-go-diem-nghen-tao-chuyen-bien-moi5.jpg

Học sinh Trường THCS&THPT Sư phạm (Trường ĐHSP Hà Nội 2).

Thách thức từ sắp xếp mạng lưới trường lớp

Năm học 2026 - 2027, ngành Giáo dục bước vào giai đoạn có nhiều thay đổi khi đồng thời phải bảo đảm ổn định bộ máy, sắp xếp mạng lưới trường lớp... Ông Lê Tuấn Tứ - đại biểu Quốc hội khóa XIV nhìn nhận, trong bối cảnh quy mô người học lớn, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì hoạt động dạy học ổn định, mà còn phải bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất và đội ngũ đáp ứng yêu cầu đổi mới.

Đáng chú ý, việc sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới trường lớp đặt ra yêu cầu cao về cơ sở vật chất và ổn định bộ máy. Ông Lê Tuấn Tứ cho hay, tại một số địa bàn, hệ thống trường học còn thiếu đồng bộ; phòng học, phòng chức năng, khu bán trú, công trình phụ trợ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Trong khi đó, quá trình sắp xếp, sáp nhập trường học nếu không được tính toán kỹ về quy mô, khoảng cách, điều kiện đi lại và nhu cầu thực tế có thể tạo thêm áp lực cho người học, giáo viên và công tác quản lý.

Vì vậy, bài toán của năm học mới không chỉ là sắp xếp lại mạng lưới mà phải bảo đảm sau sắp xếp, hệ thống trường lớp hoạt động ổn định, sử dụng hiệu quả nguồn lực và tạo điều kiện học tập tốt hơn cho học sinh. Cùng đó, ông Lê Tuấn Tứ cho rằng, cần có lộ trình đầu tư cơ sở vật chất phù hợp, tránh tình trạng trường được sáp nhập nhưng hạ tầng chưa đáp ứng, hoặc khoảng cách đến trường của học sinh tăng lên. Đây là điều kiện quan trọng để những thay đổi về tổ chức thực sự góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, thay vì chỉ dừng ở việc điều chỉnh về mặt hành chính.

Theo báo cáo của 34 địa phương, tổng số cơ sở giáo dục công lập dự kiến giảm từ 37.386 xuống 20.284, giảm 17.102 đầu mối, tương ứng 45,7%. Ông Thái Văn Tài - Vụ trưởng Vụ Giáo dục Phổ thông (Bộ GD&ĐT) cho hay, các địa phương đã nghiêm túc triển khai chỉ đạo của Chính phủ, chủ động rà soát mạng lưới và xây dựng phương án phù hợp với điều kiện thực tế.

Việc sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục dự kiến sẽ có những tác động đến tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên trường học tại các địa phương. Phương án xử lý đội ngũ cơ bản được các địa phương xây dựng theo hướng tiếp nhận, sử dụng tối đa nhân sự hiện có, bảo đảm ổn định hoạt động của các cơ sở giáo dục sau sắp xếp, quyền, lợi ích hợp pháp của đội ngũ chịu tác động.

Các địa phương ưu tiên bố trí tại trường chính, phân hiệu, điểm trường; điều động đến cơ sở giáo dục còn thiếu; chuyển người đủ điều kiện trở lại giảng dạy hoặc bố trí công tác khác phù hợp với năng lực, chuyên môn. Trường hợp không còn phương án bố trí thì thực hiện chế độ, chính sách theo quy định.

Đối với nhân viên trường học, xu hướng chung là duy trì các vị trí gắn trực tiếp với việc bảo đảm chất lượng giáo dục và chăm sóc học sinh tại từng địa điểm học như thư viện, thiết bị thí nghiệm và y tế trường học; đồng thời tổ chức lại các vị trí hành chính như kế toán, văn thư, thủ quỹ, theo hướng tinh gọn, bố trí dùng chung trong cùng một pháp nhân.

Việc giảm đầu mối chủ yếu được thực hiện thông qua tổ chức trường nhiều cấp học, chuyển cơ sở cũ thành phân hiệu, điểm trường và sắp xếp lại các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên. Các địa điểm dạy học cần thiết cơ bản được duy trì, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới và hải đảo, nhằm bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục của học sinh.

Mô hình mới cần bảo đảm một pháp nhân, một hệ thống quản trị và trách nhiệm giải trình; phân công rõ người phụ trách từng phân hiệu, điểm trường; tổ chức chuyên môn liên thông và thống nhất quy trình quản lý nhân sự, tài chính, tài sản, dữ liệu, bán trú, nội trú, an toàn thực phẩm và phòng cháy, chữa cháy. Trọng tâm sau sắp xếp không chỉ là giảm đầu mối mà còn phải bảo đảm các cơ sở giáo dục vận hành ổn định, hiệu quả và không làm ảnh hưởng đến quyền học tập của học sinh.

thao-go-diem-nghen-tao-chuyen-bien-moi-3.jpg

Cô - trò Trường THCS Tây Mỗ (Hà Nội). Ảnh: NTCC

Cần thay đổi từ những hạng mục thiết yếu

Một trong những điểm nghẽn cần được nhìn nhận và tháo gỡ là điều kiện nhà vệ sinh trường học, khi nhiều cơ sở giáo dục, kể cả ở đô thị, vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. PGS.TS Đậu Xuân Cảnh - Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, nguyên Giám đốc Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam cho rằng, cần thay đổi nhận thức, coi nhà vệ sinh và nhà bếp là những công trình thiết yếu, có vai trò quan trọng không kém phòng học, thư viện, nhà thể chất hay sân thể dục, thể thao.

Theo quan điểm này, khi tư duy thay đổi sẽ dẫn đến thay đổi trong hành động và cách đầu tư, từ đó tạo ra những kết quả thiết thực. PGS.TS Đậu Xuân Cảnh nhận thấy, tình cảm của học sinh đối với trường, lớp cũng chịu tác động từ những công trình tưởng như nhỏ bé nhưng thiết yếu như nhà vệ sinh. Một môi trường học tập sạch sẽ, thuận tiện sẽ góp phần tạo cảm giác thoải mái, an toàn và gắn bó cho học sinh.

Vì vậy, cần có giải pháp căn cơ để cải thiện điều kiện cơ sở vật chất trường học. Trước mắt, các địa phương, nhà trường cần rà soát, cải tạo, sửa chữa hoặc xây mới những nhà vệ sinh xuống cấp, không bảo đảm tiêu chuẩn. Trong quy hoạch trường học, cần dành quỹ đất phù hợp để đầu tư hệ thống nhà vệ sinh sạch, đẹp, hiện đại, đáp ứng nhu cầu sử dụng của học sinh và giáo viên.

Quan trọng hơn, cần đặt sức khỏe học sinh ở vị trí trung tâm, coi trọng chăm sóc sức khỏe tinh thần ngang với sức khỏe thể chất. Cùng với cải thiện cơ sở vật chất, nguyên Giám đốc Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam nhấn mạnh, cần tiếp tục quy hoạch, sắp xếp các điểm trường hợp lý, khoa học; đồng thời nâng cao chất lượng hệ thống nhà vệ sinh trường học, tạo môi trường thuận lợi để học sinh học tập, sinh hoạt và rèn luyện sức khỏe.

“Những thay đổi từ các hạng mục thiết yếu này không chỉ góp phần cải thiện điều kiện học tập, sinh hoạt mà còn thể hiện sự quan tâm thực chất của ngành Giáo dục đối với học sinh”, PGS.TS Đậu Xuân Cảnh nhìn nhận.

thao-go-diem-nghen-tao-chuyen-bien-moi-1.jpg

Sinh viên Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: NTCC

Cơ hội song hành cùng thách thức

Luật Nhà giáo năm 2025 và Quyết định số 131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chuyển đổi số trong giáo dục đặt ra yêu cầu phát triển năng lực số, đổi mới phương pháp dạy học và học tập suốt đời đối với đội ngũ nhà giáo. Trong bối cảnh đó, PGS.TS Tưởng Duy Hải - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nhận định, năng lực AI ngày càng trở thành một yêu cầu nghề nghiệp đối với giáo viên, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới đối với các cơ sở đào tạo giáo viên. Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với ngành Giáo dục nói chung và các trường đào tạo giáo viên nói riêng.

Theo PGS.TS Tưởng Duy Hải, các cơ sở đào tạo cần chuyển từ việc sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ học tập, chuyên môn sang đào tạo giáo viên có khả năng dạy học cùng AI và sáng tạo cùng AI. Giảng viên và trợ giảng cần biết khai thác AI để thiết kế bài học, phát triển học liệu số, cá thể hóa việc học, hỗ trợ kiểm tra, đánh giá và nâng cao hiệu quả nghiên cứu; đồng thời tổ chức môi trường để người học phát triển khả năng sáng tạo cùng AI.

Hiện, Khung năng lực số cho người học và nhà giáo đã cụ thể hóa yêu cầu về AI, ứng dụng AI và sáng tạo số thành các tiêu chuẩn, tiêu chí đầu ra. Vì vậy, theo PGS.TS Tưởng Duy Hải, nhà giáo cần chủ động trang bị kiến thức về AI, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. AI cần được nhìn nhận như một năng lực nghề nghiệp, thay vì chỉ là công cụ hỗ trợ.

Đây cũng là hướng phát triển năng lực nghề nghiệp của đội ngũ nhà giáo trong môi trường giáo dục hiện tại và tương lai, trong đó chú trọng nâng cao năng lực số phục vụ nghiên cứu khoa học, đổi mới phương pháp dạy học và phát triển năng lực sư phạm AI.

Trong bối cảnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, GS.TS Nguyễn Quý Thanh - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, kiểm định chất lượng và quản trị đại học đang được quan tâm mạnh mẽ nhưng cũng tồn tại không ít cách hiểu lệch lạc. Kiểm định không phải là “đích đến” mang tính hình thức hay công cụ hợp thức hóa hồ sơ, mà là cơ chế bảo đảm chất lượng có vai trò nền tảng trong quản trị hệ thống giáo dục đại học hiện đại.

Theo GS.TS Nguyễn Quý Thanh, một “ảo tưởng” phổ biến là đồng nhất kiểm định với xếp hạng, hoặc coi kiểm định như một thủ tục hành chính tách rời hoạt động học thuật. Cách tiếp cận này làm suy giảm ý nghĩa thực chất của kiểm định, khiến quá trình quản trị đại học thiếu dữ liệu tin cậy để ra quyết định chiến lược, đồng thời không tạo được động lực cải tiến liên tục về chất lượng đào tạo, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng.

Từ góc độ chính sách vĩ mô, GS.TS Nguyễn Quý Thanh khẳng định, cần đặt kiểm định chất lượng vào trung tâm của quản trị đại học dựa trên bằng chứng và dữ liệu. Kiểm định phải trở thành công cụ hỗ trợ hoạch định chiến lược, phân bổ nguồn lực và nâng cao trách nhiệm giải trình, đặc biệt trong bối cảnh tự chủ đại học và chuyển đổi số. Chỉ khi “giải ảo” đúng và hiểu đúng bản chất, kiểm định chất lượng mới thực sự góp phần nâng cao năng lực quản trị và phát triển bền vững hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.

thao-go-diem-nghen-tao-chuyen-bien-moi-4.jpg

Giáo dục STEM tiếp tục được chú trọng. Ảnh: Hà Phương

SMART phải là từ khóa của quản trị

Đối với giáo dục đại học nhiệm vụ từ nay đến trước ngày 1/4/2027 là sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học công lập theo hướng chuyển các cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực về Bộ GD&ĐT hoặc địa phương quản lý; sáp nhập, hợp nhất các cơ sở giáo dục trên cùng địa bàn, trừ các cơ sở giáo dục thuộc lĩnh vực đặc thù. Việc sắp xếp phải bảo đảm mục tiêu giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập.

Thực tế, nhiều năm qua, mạng lưới cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam phát triển nhanh nhưng còn phân tán, manh mún, quy mô nhỏ và trùng lặp ngành nghề. Việc phân tán nguồn lực làm giảm cơ hội hình thành những đại học mũi nhọn, có vị thế trên bản đồ học thuật quốc tế.

Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Muốn đạt được mục tiêu đó, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, chúng ta không thể chỉ dựa vào lợi thế lao động giá rẻ, tài nguyên hay gia công. Năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong những thập niên tới phải ngày càng dựa trên tri thức, khoa học công nghệ, nhân tài và đổi mới sáng tạo. Và đại học phải là một trong những lực lượng đi đầu tạo ra những năng lực đó. Đây cũng chính là cốt lõi của chiến lược phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong những năm tới.

Một nền giáo dục đại học mạnh phải tạo ra được những con người mà hôm nay thị trường lao động chưa có; những tri thức mà hôm nay thế giới chưa biết; những công nghệ mà hôm nay doanh nghiệp chưa làm chủ; và những doanh nghiệp mà hôm nay chưa tồn tại. Vì vậy, chiến lược phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn tới cần được đặt trong một tư duy mới: đại học không chỉ phục vụ sự phát triển mà phải tham gia kiến tạo và dẫn dắt sự phát triển.

Chốt lại vấn đề, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh, Chiến lược giáo dục đại học trong kỷ nguyên tới phải là: Đại học đổi mới sáng tạo, SMART phải là từ khóa của quản trị, STEM phải là nền tảng cốt lõi, R&D phải được đầu tư tới tầm và xứng tầm, nghiên cứu cơ bản và khoa học đỉnh cao phải được nuôi dưỡng, tự chủ và tự do học thuật phải trở thành môi trường cho sáng tạo. Và trên tất cả, nhân tài phải thực sự được tôn trọng, được trao cơ hội và được đãi ngộ xứng đáng.

“Nếu làm được những điều đó một cách nhất quán trong 10 đến 20 năm tới, tôi tin rằng Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu có những đại học tinh hoa top 100 thế giới, có năng lực làm chủ 10 công nghệ chiến lược, 30 sản phẩm quốc gia như Nhà nước đang đề ra; Giáo dục đại học sẽ dẫn dắt nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, đóng góp trực tiếp vào sự tự chủ về khoa học công nghệ và sự hùng cường của đất nước”, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức quả quyết.

Liên quan đến sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục, ông Thái Văn Tài nhấn mạnh, các địa phương tiếp tục rà soát đến từng người, vị trí; ưu tiên bố trí lại trong ngành, điều động đến đơn vị còn thiếu hoặc chuyển sang vị trí việc làm phù hợp…

Thích

Tin liên quan