![]() |
| Nữ sinh Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh). Ảnh: NTCC |
Hiện nay, phụ nữ chỉ chiếm khoảng 37% lực lượng lao động trong lĩnh vực này. Thực tế đó đòi hỏi những giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong các ngành STEM và STEAM.
Định kiến vẫn là “điểm nghẽn”
Những năm gần đây, Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TPHCM) tuyển khoảng 5.000 sinh viên, trong đó có khoảng 1.000 nữ sinh. Dù tỷ lệ nữ đăng ký và trúng tuyển ngày càng tăng, song theo GS.TS Mai Thanh Phong - Hiệu trưởng, xét trong tổng thể, sinh viên nữ theo học các lĩnh vực STEM vẫn còn thấp.
Theo báo cáo do Trung tâm Ứng dụng Khoa học và Khởi nghiệp phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam thực hiện, năm 2025, tỷ lệ nữ tốt nghiệp các ngành khoa học, kỹ thuật và công nghệ (STEM) đạt khoảng 36,5%. Trong lực lượng lao động của các lĩnh vực này, phụ nữ chiếm gần 37%. Tuy nhiên, thay vì đảm nhiệm các vị trí kỹ thuật chuyên sâu hoặc quản lý, phần lớn vẫn tập trung ở các công việc hỗ trợ như thử nghiệm, marketing, hành chính hoặc nhân sự.
Bà Ramla Khalidi - Trưởng đại diện thường trú của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam nhận xét, phụ nữ Việt Nam có nền tảng năng lực vững chắc trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu và chuyển đổi số; tỷ lệ tham gia giáo dục STEM và lực lượng lao động khoa học – công nghệ vào khoảng 37%.
Dù vậy, nhiều nghiên cứu chỉ ra những rào cản nhất định khiến phụ nữ khó vươn tới các vị trí lãnh đạo cấp cao và tham gia quá trình ra quyết định. Điều này cho thấy tiềm năng của phụ nữ chưa được phát huy đầy đủ, chủ yếu do các rào cản mang tính cấu trúc, hơn là hạn chế về năng lực.
Chia sẻ tại Ngày hội “Truyền cảm hứng nghề nghiệp: Thúc đẩy phái nữ tham gia STEM và chuyển đổi số”, ông Đỗ Tiến Thịnh - Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) cho rằng, cần phá bỏ định kiến giới nếu muốn gia tăng sự tham gia của phụ nữ trong khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Thực tế cho thấy, ngay từ nhỏ, trong gia đình và xã hội đã hình thành những quan niệm như con gái không giỏi Toán, khó học tốt Vật lý hay các môn khoa học tự nhiên. Trong thời gian dài, nam giới thường được định hướng theo các lĩnh vực này, trong khi nữ giới được khuyến khích theo học Văn, ngoại ngữ hoặc những ngành “nhẹ nhàng” hơn. Những định kiến này cần được xóa bỏ để thay đổi nhận thức rằng phụ nữ không thể học tốt khoa học.
Liên quan đến lựa chọn nghề nghiệp, ông Đỗ Tiến Thịnh cũng chỉ ra, khi định hướng cho con gái, không ít phụ huynh có xu hướng “né tránh” các ngành khoa học – công nghệ vì cho rằng không phù hợp. Trong khi đó, điểm mạnh của phụ nữ lại nằm ở tư duy sáng tạo – yếu tố rất phù hợp với yêu cầu của công nghệ hiện đại. Thực tế trên thế giới cho thấy, ở một số lĩnh vực sáng tạo gắn với công nghệ, phụ nữ thậm chí còn có thể vượt trội hơn nam giới.

Nữ sinh Trường THCS Cầu Giấy (Hà Nội) trải nghiệm tại phòng thực hành STEM. Ảnh: NTCC
Mở cơ hội cho nữ sinh vùng khó
Đề cập đến lý do khuyến khích phụ nữ tham gia khoa học – công nghệ, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) nhấn mạnh, thị trường lao động và thu nhập là những yếu tố cần được tính đến. Chẳng hạn, nhân sự trong lĩnh vực bán dẫn thường có mức lương cao hơn so với nhiều ngành nghề khác. Đây là cơ hội để phụ nữ không chỉ khẳng định năng lực bản thân mà còn hướng tới công bằng thu nhập và bình đẳng giới trong nghề nghiệp.
Ở góc độ khác, khoảng 8.000 nữ sinh, trong đó có nhiều em đến từ vùng dân tộc thiểu số, đã được tiếp cận giáo dục STEAM (Science - Khoa học; Technology - Công nghệ; Engineering - Kỹ thuật; Art - Nghệ thuật; Maths - Toán học). Thông tin được công bố tại Lễ tổng kết dự án “Chúng tôi có thể” (giai đoạn 2) và khởi động giai đoạn 3, tổ chức vào cuối tháng 3/2026. Dự án do UNESCO phối hợp với Bộ GD&ĐT triển khai.
Đây là sáng kiến nhằm thúc đẩy cơ hội học tập bao trùm, tăng cường giáo dục STEAM cho nữ sinh, đặc biệt tại vùng dân tộc thiểu số và khu vực khó khăn. Không chỉ nâng cao năng lực cho hơn 650 giáo viên, dự án còn huy động 300 thủ lĩnh thanh niên tham gia thúc đẩy bình đẳng giới, góp phần thu hẹp khoảng cách giới trong hệ thống giáo dục quốc gia.
Với chủ đề “Chúng tôi có thể vì một tương lai kết nối: Từ học tập đến tiên phong thông qua giáo dục STEAM”, giai đoạn 3 (2026 - 2029) đặt mục tiêu hỗ trợ 6.000 học sinh, trong đó ưu tiên 3.000 nữ sinh và người học từ các cộng đồng dân tộc thiểu số.
Theo thống kê của nhóm chuyên gia, phụ nữ Việt Nam tham gia các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học còn hạn chế, ước tính khoảng 37/100 người làm việc trong lĩnh vực này là nữ. Vì vậy, dự án tập trung phát triển tư duy sáng tạo, đồng thời đẩy mạnh nâng cao năng lực quản lý giáo dục, mở rộng học tập trải nghiệm và tăng cường kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp, các nữ lãnh đạo công nghệ.
Khẳng định sẽ đồng hành cùng dự án, ông Jonathan Wallace Baker - Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam nhấn mạnh cam kết thúc đẩy bình đẳng giới thông qua giáo dục – một trong những ưu tiên cốt lõi của tổ chức. Khi trẻ em gái được trao cơ hội thực chất để phát triển kỹ năng và năng lực lãnh đạo qua giáo dục STEAM, các em sẽ phát huy tối đa tiềm năng, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội.
“UNESCO sẽ đồng hành cùng Việt Nam kiến tạo môi trường học tập bình đẳng, nơi học sinh được quyền sáng tạo và dẫn dắt tương lai”, ông Jonathan Wallace Baker khẳng định.
Bà Heekyung Jo Min - Trưởng bộ phận Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, Tập đoàn CJ cũng cho biết sẽ tiếp tục củng cố hợp tác trong dự án “Chúng tôi có thể” giai đoạn 3, nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng, đồng thời hỗ trợ nữ sinh và học sinh dân tộc thiểu số phát triển kỹ năng, sự tự tin để thành công, đặc biệt thông qua giáo dục STEAM.

Nữ sinh Trường Đại học Phenikaa. Ảnh: NTCC
Hoàn thiện chính sách
Nhằm thúc đẩy cơ hội học tập bao trùm cho trẻ em gái tại Việt Nam, ông Vũ Minh Đức - Cục trưởng Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ GD&ĐT) cho rằng, cần đưa nội dung về giới và bình đẳng giới vào giảng dạy chính thức tại các cơ sở đào tạo giáo viên. Qua đó, góp phần thực hiện hiệu quả Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021–2030.
Theo ông Vũ Minh Đức, sáng kiến “Chúng tôi có thể” đã đóng góp tích cực vào đối thoại chính sách quốc gia về thu hẹp khoảng cách giới trong giáo dục. Trong ba năm tới, dự án tiếp tục hỗ trợ học sinh, đặc biệt là nữ sinh và người học từ các cộng đồng dân tộc thiểu số, phát triển tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề và sự tự tin để theo đuổi các lĩnh vực khoa học, công nghệ.
Dự án tập trung vào ba nhóm hoạt động chính: nâng cao năng lực cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; mở rộng cơ hội học tập trải nghiệm cho học sinh; thúc đẩy hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp, cộng đồng đổi mới sáng tạo và các nữ lãnh đạo trong lĩnh vực khoa học, công nghệ.
Bình đẳng giới là một trong những mục tiêu quan trọng, đồng thời là thước đo trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Ông Vũ Minh Đức nhấn mạnh, bình đẳng giới không chỉ là mục tiêu tự thân của sự phát triển mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Theo đó, việc bảo đảm bình đẳng giới đã được thể chế hóa rõ ràng trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Cụ thể, Quốc hội đã ban hành Luật Bình đẳng giới, quy định nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, đồng thời xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện mục tiêu này. Luật hướng tới xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực; từng bước tiến tới bình đẳng thực chất và xây dựng mối quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa hai giới trong mọi lĩnh vực.
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Luật Bình đẳng giới dành riêng một điều quy định các nội dung liên quan, bảo đảm nam và nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, cơ hội học tập, đào tạo, bồi dưỡng; bình đẳng trong lựa chọn ngành, nghề, đồng thời có các biện pháp thúc đẩy nhằm thu hẹp khoảng cách giới trong giáo dục. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Cụ thể hóa các quy định của Luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 48/2009/NĐ-CP về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trong đó nhấn mạnh việc đưa nội dung giáo dục về giới và bình đẳng giới vào chương trình chính khóa và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, phù hợp với từng cấp học, trình độ đào tạo; đồng thời khuyến khích đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức xã hội về bình đẳng giới.
Trên cơ sở đó, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết số 28/NQ-CP về Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021–2030, kế thừa kết quả của giai đoạn trước, đồng thời cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, gắn với thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.
Mục tiêu xuyên suốt của Chiến lược là tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện để phụ nữ và nam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; qua đó không chỉ nâng cao vị thế của phụ nữ mà còn góp phần xây dựng xã hội công bằng, tiến bộ và phát triển bền vững.
Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, theo ông Vũ Minh Đức, việc lồng ghép nội dung bình đẳng giới vào chương trình giáo dục không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc, góp phần hình thành nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực và hành vi phù hợp của thế hệ trẻ, từ đó lan tỏa các giá trị bình đẳng, văn minh trong toàn xã hội.
Khuyến khích và hỗ trợ phụ nữ tham gia lĩnh vực STEM, chuyển đổi số, ông Đỗ Tiến Thịnh cho biết, NIC cam kết sẽ đóng vai trò cầu nối giữa các tổ chức, doanh nghiệp, trường đại học và cộng đồng, nhằm xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn diện, nơi mọi cá nhân, không phân biệt giới tính, đều có cơ hội phát triển và đóng góp cho tiến bộ xã hội.


