
Đất nông nghiệp xây nhà rồi nộp phạt xong không có nghĩa là công trình được tồn tại hợp pháp. Ảnh: Phan Anh
Trao đổi với Lao Động, Luật sư Trần Tuấn Anh - Giám đốc Công ty Luật Bright Legal - cho biết, đây có lẽ là câu hỏi mà ông đã phải đính chính nhiều nhất trong quá trình tư vấn: Nộp phạt xong không có nghĩa là công trình được tồn tại hợp pháp.
Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 123/2024/NĐ-CP (hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả), đi kèm với hình thức xử phạt bằng tiền quy định cụ thể tại Điều 8, 9, 10 Nghị định 123/2024/NĐ-CP luôn là biện pháp khắc phục hậu quả bắt buộc - buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, tức là buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép để trả lại hiện trạng đất nông nghiệp.
"Đây là hai chế tài độc lập, đi kèm với nhau, không phải 'chọn một trong hai' hay 'nộp cái này thì miễn cái kia'. Rất nhiều người dân hiểu lầm rằng cứ đóng phạt xong là được yên tâm, xem như tiền phạt là một dạng 'lệ phí' để hợp pháp hóa công trình, đây là quan niệm hoàn toàn sai", Luật sư Tuấn Anh nhấn mạnh.
Theo Luật sư Trần Tuấn Anh, trường hợp giúp công trình không bị tháo dỡ là người sử dụng đất hoàn thiện thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng đất và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận, hoặc thuộc diện được xem xét cấp Giấy chứng nhận theo khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai 2024 (như đã phân tích ở câu 1 và câu 5). Khi đó, đất đã chính thức trở thành đất ở hợp pháp, nghĩa vụ tháo dỡ mới được xem xét không áp dụng (do công trình đã phù hợp với mục đích sử dụng đất mới).
Nếu thửa đất không đủ điều kiện để chuyển mục đích (không phù hợp quy hoạch, thuộc diện cấm chuyển đổi…), thì dù đã nộp phạt, người vi phạm vẫn có nghĩa vụ tự tháo dỡ công trình theo thời hạn ghi trong quyết định xử phạt. Nếu không tự nguyện chấp hành, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tổ chức cưỡng chế tháo dỡ theo Điều 86 và Điều 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), và toàn bộ chi phí cưỡng chế do chính người vi phạm phải chi trả.
Luật sư Trần Tuấn Anh cho hay, danh mục căn cứ pháp lý được trích dẫn, bổ sung:
- Luật Đất đai 2024: khoản 27 Điều 3 (định nghĩa hủy hoại đất); khoản 1 Điều 31 (nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích); Điều 116 (căn cứ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất); khoản 1 Điều 121 (các trường hợp chuyển mục đích phải được phép); Điều 122 (điều kiện cho phép chuyển mục đích, gồm khoản 1 về đất trồng lúa/rừng cần Nghị quyết HĐND cấp tỉnh); Điều 138 (cấp GCN cho đất không giấy tờ, không vi phạm); khoản 3 Điều 139 (giải quyết đất có vi phạm sử dụng sai mục đích trước 1.7.2014); Điều 227 (trình tự, thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất).
- Nghị định 123/2024/NĐ-CP: Điều 3 (thời hiệu xử phạt 2 năm); Điều 4 (hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả); khoản 2 Điều 5 (mức phạt tổ chức gấp 2 lần cá nhân); khoản 4 Điều 3 (không xử phạt vi phạm trước 15.10.1993); Điều 8 (chuyển đất trồng lúa trái phép); Điều 9 (chuyển đất rừng đặc dụng/phòng hộ/sản xuất trái phép); Điều 10 (chuyển đất nông nghiệp khác - đất vườn, cây lâu năm - trái phép); Điều 14 (hủy hoại đất).
- Nghị quyết 254/2025/QH15: điểm c khoản 2 Điều 10 (mức thu 30%/50% tiền sử dụng đất khi chuyển đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa có đất ở sang đất ở).
- Nghị định 50/2026/NĐ-CP: Điều 12 (xử lý chuyển tiếp, hồi tố tiền sử dụng đất đối với các trường hợp chuyển mục đích từ 1.8.2024 đến trước 1.1.2026).
- Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020): điểm a khoản 1 Điều 6 (thời hiệu xử phạt 2 năm với vi phạm về đất đai); Điều 86, Điều 87 (cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt).


