Bước tiến trong số hóa học đường
![]() |
| Giáo viên phân hiệu Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng hỗ trợ các em làm quen và thực hành trong môi trường số bằng máy tính cá nhân. Ảnh: Thế Hùng |
Tuy nhiên, từ thiết bị, hạ tầng Internet cho đến kỹ năng vận hành vẫn là những “khoảng trống” cần giải quyết để công nghệ thực sự trở thành một phần tự nhiên trong đời sống nhà trường.
Thêm thiết bị - thêm cơ hội học tập
Một tiết Toán của học sinh lớp 1 ở phân hiệu Ea Krông, Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, xã Krông Á (Đắk Lắk) trở nên sinh động hơn khi bài học được đưa lên màn hình. Hình ảnh, âm thanh và nội dung trực quan thu hút sự chú ý của 30 học sinh, trong đó hơn 97% là người dân tộc thiểu số.
Cô Mạc Thị Thanh Thủy - giáo viên chủ nhiệm lớp 1A cho biết, công nghệ giúp người dạy có thêm phương tiện minh họa bài học. Những hình ảnh, video được sử dụng phù hợp giúp học sinh dễ tập trung và hứng thú hơn với nội dung bài học. “Khi áp dụng công nghệ vào giảng dạy, học sinh hứng thú hơn với nội dung bài học qua những video, hình ảnh sinh động. Đây cũng là động lực giúp các em cải thiện kết quả học tập”, cô Thủy chia sẻ.
Song cơ hội tiếp cận thiết bị của học sinh chưa đồng đều. Hiện chỉ khoảng 10% học sinh tại phân hiệu có máy tính ở nhà. Phần lớn sử dụng điện thoại của bố mẹ hoặc chỉ được thực hành trên thiết bị khi đến trường.
Em Liều Thị Xa - học sinh lớp 5, thuộc số ít học sinh có máy tính riêng. Gia đình mua máy cho em từ lớp 2 với mong muốn tạo thêm điều kiện học tập và làm quen với công nghệ. Nhờ có thiết bị sử dụng thường xuyên, Xa có thêm cơ hội thực hành, tham gia các sân chơi trực tuyến và đạt được một số thành tích dành cho học sinh tiểu học. Câu chuyện của Xa cho thấy thiết bị tạo ra lợi thế rõ rệt về cơ hội thực hành. Trong khi đó, nhiều học sinh khác chỉ có thể sử dụng máy tính trong những giờ học được nhà trường bố trí.
Để tăng cơ hội tiếp cận cho học sinh, Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng chủ động tìm thêm nguồn lực. Ông Võ Ngọc Huỳnh - Hiệu trưởng nhà trường cho biết, trường vận động xã hội hóa, đồng thời tiết kiệm từ nguồn chi thường xuyên để từng bước mua sắm, bổ sung thiết bị phục vụ dạy học. Nhờ đó, trường có thêm 4 tivi thông minh, 2 máy tính xách tay và 4 máy tính để bàn. Tổng số thiết bị hiện có gồm 24 bộ máy tính và 11 tivi.
Thiết bị được đưa vào lớp học, phòng máy và các hoạt động thực hành. Học sinh chưa có máy tính ở nhà được tạo điều kiện sử dụng thiết bị tại trường; giáo viên cũng tận dụng máy tính cá nhân, tổ chức cho học sinh thực hành theo nhóm. Nguồn lực xã hội hóa giúp nhà trường từng bước cải thiện điều kiện dạy học, song khả năng huy động có giới hạn. Với nhiều gia đình vùng khó, việc tự trang bị máy tính cho con vẫn là khoản đầu tư không dễ thực hiện.
Khoảng cách về thiết bị vì vậy vẫn là một trong những trở ngại đầu tiên khi đưa trường học số đến vùng khó.

Đoàn công tác hỗ trợ vận hành tại Trường PTNT Tiểu học và THCS La Êê hướng dẫn quản trị trường học trên môi trường số. Ảnh: NTCC
Nhiều khoảng trống trong vận hành
Thiết bị chỉ phát huy hiệu quả khi có hạ tầng phù hợp và người sử dụng biết khai thác. Đây là những yêu cầu đang đặt ra trong quá trình chuyển đổi số ở nhiều trường vùng biên, miền núi.
Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS La Êê (xã biên giới La Êê, TP Đà Nẵng) đang từng bước đưa các hoạt động quản trị lên môi trường điện tử. Đoàn công tác của Sở GD&ĐT Đà Nẵng hỗ trợ nhà trường trong công tác vận hành hướng dẫn cho văn thư việc tổ chức, lưu trữ hồ sơ theo “Hồ sơ công việc”, đồng thời hỗ trợ khai thác hệ thống quản lý văn bản và điều hành.
Nhà trường được hướng dẫn thực hiện quy trình xử lý văn bản trên môi trường điện tử, thay vì chỉ scan tài liệu rồi đưa lên hệ thống. Các bước trình ký, ký số và ký phát hành cần được thực hiện trực tiếp trên hệ thống. Chứng thư số phục vụ công tác văn thư cũng đang được hoàn thiện. Những yêu cầu này cho thấy chuyển đổi số trong trường học không chỉ nằm ở lớp học. Cách lưu trữ hồ sơ, xử lý văn bản và tổ chức công việc cũng phải thay đổi để phù hợp với môi trường điện tử.
Hồ sơ điện tử vì vậy không đơn thuần thay tài liệu giấy bằng các tệp dữ liệu. Đội ngũ nhà trường cần nắm được quy trình, sử dụng đúng các chức năng của hệ thống và hình thành thói quen làm việc mới. Đây cũng là yêu cầu trong việc thực hiện hồ sơ, sổ sách điện tử tại các cơ sở giáo dục từ năm học 2025 - 2026.
Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học Trà Leng (xã Trà Leng, TP Đà Nẵng), đã sử dụng học bạ điện tử, giáo án điện tử và tivi thông minh phục vụ giảng dạy trong nhiều năm. Công nghệ hỗ trợ nhà trường trong quản lý dữ liệu, đồng thời giúp giáo viên có thêm phương tiện tổ chức bài học. Tuy nhiên, mùa mưa bão thường kéo theo mất điện, đứt cáp, Internet gián đoạn. Khi kết nối không ổn định, các thiết bị và nền tảng số khó hoạt động liên tục.
Theo chia sẻ của Hiệu trưởng Bùi Quang Ngọc, giáo viên rất quan tâm đến những công cụ mới có thể hỗ trợ công việc chuyên môn. Song để khai thác hiệu quả, nhà trường cần được hỗ trợ về hạ tầng và có điều kiện tiếp cận các nền tảng phù hợp. Thực tế này đặt ra yêu cầu đầu tư đồng bộ hơn cho trường học số. Một phòng máy sẽ khó phát huy hiệu quả nếu đường truyền thường xuyên gián đoạn; một phần mềm cũng chưa thể tạo ra thay đổi nếu đội ngũ chưa được hướng dẫn đầy đủ.

Trường PTDTBT Tiểu học Trà Leng trang bị bảng trượt và ti vi thông minh tại một điểm trường thôn. Ảnh: NTCC
“Trợ lý số” của giáo viên
Trong quá trình nâng năng lực số cho giáo viên vùng khó, các trường đại học đang có thêm vai trò trong chuyển giao tri thức và hỗ trợ nhà trường ứng dụng công nghệ. Các chương trình tập huấn AI do các trường đại học hỗ trợ triển khai tại một số địa phương miền núi tập trung vào những công việc cụ thể của giáo viên như xây dựng kế hoạch dạy học, thiết kế học liệu, tạo câu hỏi, phát triển bài giảng trực quan hay hỗ trợ xử lý thông tin.
Cách tiếp cận này giúp công nghệ đến gần hơn với công việc thường ngày của người dạy. Giáo viên không chỉ biết thêm một công cụ mà có thể hình dung cách đưa công cụ ấy vào bài giảng và các nhiệm vụ chuyên môn.
ThS Lê Vũ - Giám đốc Trung tâm Tin học, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật - Đại học Đà Nẵng, người trực tiếp tham gia các chương trình tập huấn, nhận thấy giáo viên vùng cao có nhu cầu tiếp cận công nghệ rất lớn. Nhiều thầy cô sẵn sàng vượt quãng đường xa để tham gia lớp học và thực hành từng nội dung. Điều ông Vũ quan tâm là làm sao để những kiến thức được học không dừng lại sau khóa tập huấn.
Theo ThS Lê Vũ, nội dung bồi dưỡng cần gắn với những công việc giáo viên đang thực hiện. Thay vì giới thiệu quá nhiều công cụ, việc hướng dẫn nên đi vào từng nhiệm vụ cụ thể để giáo viên có thể sử dụng ngay. “Để AI thực sự đi vào giáo dục ở cơ sở phải chuyển từ tập huấn đại trà sang cầm tay chỉ việc, bám sát nhu cầu thực tế của từng nhóm đối tượng. Khi người học thấy AI giúp ích trực tiếp cho công việc hằng ngày, họ sẽ chủ động sử dụng”, ThS Lê Vũ nhận định.
Cô Hiên Thị Tế - giáo viên Trường PTNT Tiểu học và THCS La Êê, bắt đầu làm quen với AI qua các lớp tập huấn tại địa phương. Công cụ này được cô sử dụng để gợi ý cấu trúc bài giảng, xây dựng tình huống khởi động, thiết kế câu hỏi theo mức độ tư duy và tạo học liệu trực quan. Theo cô Tế, AI còn hỗ trợ tổng hợp kết quả học tập và xử lý một số công việc hành chính, giúp giáo viên có thêm thời gian dành cho hoạt động giảng dạy và hỗ trợ học sinh.
Ông Vũ cho rằng, việc các trường đại học tham gia hỗ trợ những địa bàn khó khăn không chỉ dừng lại ở các khóa tập huấn ngắn hạn. Với đội ngũ giảng viên, chuyên gia và nền tảng công nghệ, các cơ sở đào tạo có thể tiếp tục đồng hành cùng trường phổ thông trong bồi dưỡng kỹ năng số, phát triển học liệu và hướng dẫn khai thác những công cụ mới.
Với các trường vùng khó, thu hẹp khoảng cách công nghệ vẫn cần được tiếp sức bằng thiết bị, hạ tầng và năng lực số của giáo viên. Những bước đi đang triển khai cho thấy công nghệ đã hiện diện rõ hơn trong trường học, nhưng để mọi học sinh thực sự được hưởng lợi, quá trình này cần được đầu tư và hỗ trợ lâu dài.
Ông Lưu Tiến Quang - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Đắk Lắk, cho rằng mục tiêu của chuyển đổi số trong giáo dục không nằm ở số lượng máy tính, phần mềm hay thiết bị được trang bị, mà ở việc học sinh học tốt hơn, giáo viên có thêm điều kiện sáng tạo và phụ huynh có thể đồng hành tốt hơn. Quan trọng nhất là không một học sinh nào bị giới hạn cơ hội phát triển chỉ vì sinh ra ở vùng khó khăn.



