
PGS.TS Lê Hiếu Học cho rằng, điều chỉnh quy định về điểm cộng IELTS trong tuyển sinh cần lộ trình để học sinh và gia đình có thời gian chuẩn bị, thích ứng với thay đổi. Ảnh: Tường Vân
Điểm cộng IELTS tạo sự bất bình đẳng trong tuyển sinh, nhất là ở ngành cạnh tranh cao
Bộ GDĐT vừa công bố dự thảo Thông tư sửa đổi quy chế tuyển sinh, trong đó, đề xuất từ năm 2027 không còn điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định đối với chứng chỉ, thành tích hoặc tiêu chí bổ sung.
Ông Nguyễn Tiến Thảo - Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ GDĐT nhận định, đây là điều chỉnh cấp thiết nhằm bảo đảm mọi thí sinh dự tuyển vào cùng một ngành được đánh giá theo cùng yêu cầu đầu vào, trên cùng thang đo; đồng thời làm cho tuyển sinh minh bạch, đơn giản và thực chất hơn.
Từ năm 2023, Bộ đã yêu cầu quy đổi tương đương để giảm chênh lệch; năm 2026 tiếp tục khống chế điểm cộng tối đa 10% tổng điểm xét tuyển. Tuy nhiên, ông Thảo đánh giá, khi mỗi trường tự quy đổi và tự xác định điểm cộng, sự khác biệt vẫn lớn.

Bất cập còn thể hiện qua thực tế, có ngành không yêu cầu ngoại ngữ nhưng thí sinh có chứng chỉ tiếng Anh vẫn được cộng điểm. Chẳng hạn, với ngành chỉ xét Toán, Vật lý và Hóa học, một thí sinh có kết quả ba môn cao hơn vẫn có thể trượt trước thí sinh có điểm chuyên môn thấp hơn nhưng được cộng chứng chỉ.
Song, ông Thảo cũng nhấn mạnh, dự thảo không loại bỏ chứng chỉ ngoại ngữ khỏi tuyển sinh và cũng không phủ nhận thành tích học sinh giỏi.
Chứng chỉ ngoại ngữ vẫn được sử dụng để quy đổi, thay thế điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển theo quy tắc công khai; chứng minh yêu cầu ngoại ngữ đầu vào của chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài; hoặc được xem xét công nhận học phần, chuẩn đầu ra theo quy định.
Thí sinh đoạt giải học sinh giỏi quốc gia, quốc tế vẫn được xét tuyển thẳng nếu đáp ứng điều kiện của quy chế. Xét tuyển thẳng cũng không tính vào giới hạn ba phương thức của mỗi ngành từ năm 2027.
"Dự thảo chỉ đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định cho thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung (cộng điểm với thí sinh có chứng chỉ IELTS, giải học sinh giỏi tỉnh...)" - ông Thảo nói.
Điều chỉnh cần có lộ trình
PGS.TS Lê Hiếu Học - Trưởng khoa Khoa học - Công nghệ Giáo dục, Đại học Bách khoa Hà Nội - cho rằng câu chuyện IELTS trước hết cần được nhìn từ góc độ khoa học đo lường và đánh giá.
Theo ông Học, IELTS là một công cụ đánh giá chuẩn hóa về năng lực sử dụng tiếng Anh. Một thí sinh đạt IELTS 7.0 đã cung cấp một bằng chứng tương đối rõ về năng lực ngoại ngữ tại thời điểm đánh giá. Tuy nhiên, điểm IELTS không trực tiếp cho biết thí sinh đó có năng lực toán học, tư duy kỹ thuật hay một năng lực chuyên môn khác cao hơn.
“Vì vậy, câu hỏi không nên chỉ là ‘IELTS có tốt hay không?’, mà quan trọng hơn là: Kết quả IELTS đang được sử dụng để đưa ra quyết định gì? Nếu một chương trình đào tạo bằng tiếng Anh hoặc có thể chứng minh năng lực ngoại ngữ là một yêu cầu đầu vào có liên quan trực tiếp đến khả năng học tập trong chương trình, thì việc sử dụng IELTS như một minh chứng về năng lực là có cơ sở. Nhưng nếu IELTS trở thành một khoản điểm cộng cho những ngành mà ngoại ngữ không phải là yêu cầu đầu vào quan trọng, thì cần xem xét lại sự phù hợp của cách sử dụng đó” - ông Học phân tích.
Theo ông Học, điều quan trọng là phân biệt giữa chất lượng của công cụ đánh giá và tính hợp lý của việc sử dụng kết quả đánh giá. Một công cụ có thể đánh giá tốt một năng lực cụ thể, nhưng nếu kết quả của công cụ đó được sử dụng cho một mục đích không gắn trực tiếp với năng lực mà chương trình cần tuyển, thì cách sử dụng vẫn có thể chưa phù hợp. Ông cũng cho rằng cần phân biệt công bằng trong tuyển sinh với công bằng về cơ hội học tập.
“Việc không cộng điểm IELTS có thể xử lý một vấn đề công bằng tại thời điểm xét tuyển, nhất là khi điểm cộng có thể làm thay đổi thứ tự trúng tuyển. Nhưng biện pháp này không tự động giải quyết sự chênh lệch về điều kiện học ngoại ngữ, khả năng tiếp cận giáo viên, học liệu hay các kỳ thi chuẩn hóa giữa học sinh ở những vùng và hoàn cảnh khác nhau. Vì vậy, về dài hạn, chính sách công bằng không chỉ cần điều chỉnh cách sử dụng chứng chỉ trong tuyển sinh mà còn phải mở rộng cơ hội để nhiều học sinh hơn có thể hình thành và chứng minh năng lực ngoại ngữ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi chủ trương của Đảng và Nhà nước là dần đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai” - ông Học nêu quan điểm.
Từ góc độ thiết kế phương thức tuyển sinh, theo ông Học, các trường cũng cần xác định rõ IELTS đang được sử dụng như một minh chứng về năng lực ngoại ngữ thực sự cần thiết cho chương trình, hay chỉ là một yếu tố cộng thêm làm thay đổi thứ tự xét tuyển. Việc sử dụng chứng chỉ cần gắn với yêu cầu đầu vào của từng ngành và phải có cơ sở giải trình rõ ràng. Một yếu tố khác cũng rất quan trọng là tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách.
“Học sinh không chuẩn bị cho đại học trong vài tháng. Việc học IELTS, lựa chọn tổ hợp môn hay chuẩn bị cho kỳ thi đánh giá năng lực có thể kéo dài nhiều năm. Vì vậy, ngay cả một thay đổi hợp lý về chuyên môn cũng cần có lộ trình đủ rõ, đủ sớm để người học và gia đình có thể thích ứng. Điều này vừa bảo đảm hiệu quả của chính sách, vừa hạn chế những bất lợi phát sinh đối với những học sinh đã chuẩn bị theo quy định trước đó” - ông Học nói.


