Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đáp ứng Khung năng lực số, giáo viên nỗ lực vượt 'rào cản thế hệ'

Trước yêu cầu đáp ứng Khung năng lực số giáo viên theo Thông tư 18/2026/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT, không ít thầy cô lớn tuổi, đặc biệt ở vùng cao, khó khăn, đang đối mặt với áp lực từ rào cản tuổi tác, hạn chế về công nghệ và điều kiện hạ tầng.

Giáo viên và học sinh Trường Phổ thông DTBT Tiểu học Mường Lống 2 (Nghệ An). Ảnh: Hồ Lài
Giáo viên và học sinh Trường Phổ thông DTBT Tiểu học Mường Lống 2 (Nghệ An). Ảnh: Hồ Lài

Bên cạnh nỗ lực tự đổi mới của giáo viên, bài toán hỗ trợ, bồi dưỡng để không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình số hóa giáo dục đang trở nên cấp thiết.

Rào cản “thế hệ cũ”

Cô Nguyễn Thị Châu Loan - giáo viên Trường THCS Hải Hòa (Cửa Lò, Nghệ An), có nhiều kinh nghiệm trong dạy học và bồi dưỡng học sinh giỏi. Cô từng có học sinh đạt giải Nhất, giải Nhì kỳ thi học sinh giỏi tỉnh môn Ngữ văn. Dù vậy, ở độ tuổi cận nghỉ hưu, cô cho biết bản thân hiện chủ yếu sử dụng công nghệ thông tin ở mức phục vụ hoạt động dạy học cơ bản. Việc nghiên cứu, sáng tạo hay ứng dụng AI trong dạy học còn khá hạn chế.

Theo cô Loan, một phần do đặc thù môn Ngữ văn cần sự truyền cảm hứng và tương tác trực tiếp giữa cô và trò; phần khác, tuổi tác cũng là rào cản trong việc tiếp cận, cập nhật những đổi mới nhanh chóng của khoa học công nghệ.

Ông Đào Công Quang - Hiệu trưởng Trường Phổ thông DTBT Tiểu học Chiêu Lưu 1 (xã Chiêu Lưu, Nghệ An), cho rằng Thông tư số 18/2026/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT ban hành Khung năng lực số đối với giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên là phù hợp trong bối cảnh giáo dục mới.

Về phía nhà trường, dù ở vùng cao, học sinh dân tộc thiểu số nhưng mạng Internet đã phủ sóng. Các lớp học ở điểm chính và 2 điểm bản lẻ cũng được trang bị tivi để phục vụ khai thác học liệu số. Tuy nhiên, việc đáp ứng các tiêu chuẩn, mức độ vận dụng công nghệ thông tin theo Khung năng lực số giáo viên là thách thức không nhỏ đối với giáo viên lớn tuổi, đặc biệt ở địa bàn vùng khó khăn.

Với nhiều giáo viên lớn tuổi, nhất là những người gần nghỉ hưu, việc tiếp thu công nghệ, thao tác kỹ thuật vẫn gặp hạn chế cả về khả năng tiếp nhận, bắt nhịp. Theo ông Quang, với nhóm giáo viên này, việc sử dụng công nghệ ở mức cơ bản như soạn giáo án điện tử, kết nối thiết bị với tivi để trình chiếu bài giảng hay khai thác học liệu điện tử đã là một nỗ lực và thành công lớn.

Trong khi đó, những yêu cầu ở mức cao hơn như ứng dụng công nghệ để thiết kế, tổ chức dạy học và quản lý lớp học; phát triển chuyên môn; đánh giá học sinh theo hướng cá nhân hóa; hay ứng dụng AI trong giáo dục… vẫn là mục tiêu khó đạt được.

Tại Trường Phổ thông DTBT Tiểu học Mường Lống 2 (xã Mường Lống), 100% học sinh là người dân tộc Mông, đồng thời phần lớn cán bộ quản lý, giáo viên cũng là người bản địa.

Ông Lầu Bá Tu - Hiệu trưởng nhà trường, cho biết trường có 13 giáo viên thì chỉ 1 giáo viên người Kinh, 2 giáo viên người Thái, còn lại là người Mông. Theo ông Tu, đây vừa là lợi thế trong việc dạy học học sinh dân tộc thiểu số, vừa là khó khăn trong quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục theo hướng số hóa.

Hiệu trưởng nhà trường thẳng thắn nhìn nhận, nhiều giáo viên lớn tuổi dù đã đạt chuẩn về bằng cấp nhưng năng lực công nghệ thông tin còn hạn chế. Tâm lý ngại học hỏi, cùng với việc tiếp cận công nghệ khó khăn khiến họ chủ yếu dạy học bằng những kiến thức, kỹ năng sẵn có, thay vì những điều học sinh đang cần trong bối cảnh mới.

Theo nhiều cán bộ quản lý giáo dục vùng cao, với cấu trúc gồm 6 miền năng lực và 20 năng lực thành phần của Khung năng lực số giáo viên, nếu được tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên, giáo viên lớn tuổi cũng chỉ có thể đặt mục tiêu đáp ứng ở mức cơ bản.

Bên cạnh đó, nhiều rào cản về cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin cũng ảnh hưởng lớn đến việc ứng dụng công nghệ số trong giáo dục. Không ít điểm trường vùng sâu, xa, biên giới chưa có mạng Internet ổn định, thiết bị dạy học còn thiếu và chưa đồng bộ.

no-luc-vuot-rao-can-the-he-1.jpg

 

Cô Đậu Thị Lai (giáo viên Trường Tiểu học Phú Sơn, Nghĩa Hành, Nghệ An) tham gia thi và đạt danh hiệu giáo viên chủ nhiệm giỏi cấp tỉnh năm 2026. Ảnh: NVCC

​Nỗ lực phổ cập chuyển đổi số

Ở tuổi 53, đã lên chức bà nội, bà ngoại nhưng cô Đậu Thị Lai (giáo viên Trường Tiểu học Phú Sơn, xã Nghĩa Hành) vẫn tham gia hội thi và đạt danh hiệu giáo viên chủ nhiệm lớp giỏi cấp tiểu học tỉnh Nghệ An.

Là thí sinh nhiều tuổi nhất tham gia hội thi, cô mong muốn được trải nghiệm ở lĩnh vực mới, học hỏi những điều mới mẻ, bắt kịp với sự thay đổi nhanh chóng của thời đại công nghệ số, áp dụng phương pháp dạy học hiện đại, đặc biệt đối với công tác chủ nhiệm lớp. Tuổi tác cao, việc tham gia hội thi vất vả, nhưng được nhà trường, đồng nghiệp động viên, cô đã vượt qua vòng thi cấp cơ sở để tham dự thi tỉnh.

Trong cả 2 phần thi trình bày biện pháp giáo dục và thực hành tiết dạy, cô Đậu Thị Lai đều ứng dụng, vận dung công nghệ số để thiết kế bài giảng và tổ chức hoạt động giáo dục cho học sinh. Sự nỗ lực của cô là minh chứng cho sự kết nối giữa kinh nghiệm dày dặn và tư duy đổi mới, đồng thời đó là sự cố gắng không ngừng nghỉ của các thế hệ nhà giáo. Đạt giáo viên chủ nhiệm lớp giỏi cấp tỉnh, không chỉ là danh hiệu của cá nhân cô Lai, mà còn tạo động lực cho các giáo viên khác cùng phấn đấu, nhất là đối với các trường ở khu vực miền núi.

Ông Nguyễn Văn Hào – Hiệu trưởng Trường THCS Yên Khê (Con Cuông, Nghệ An), cho biết đội ngũ giáo viên của trường đang ở độ chín về chuyên môn. Trong đó, nhiều giáo viên bước sang tuổi 50 vẫn nỗ lực tự học hỏi, đổi mới để nâng cao năng lực nghề nghiệp.

Thầy Nguyễn Văn Hải (SN 1979) có chuyên môn sư phạm Lịch sử. Trước đây, sau nhiều năm dạy hợp đồng nhưng chưa có cơ hội vào biên chế, thầy học thêm trung cấp sư phạm mầm non và chuyển sang công tác ở bậc học này theo diện hợp đồng Thông tư 09. Đến năm 2024, khi huyện Con Cuông có chỉ tiêu tuyển dụng giáo viên Lịch sử THCS, thầy mới được tuyển dụng chính thức vào Trường THCS Yên Khê.

Trở lại giảng dạy đúng chuyên môn sau nhiều năm gián đoạn, trong khi chương trình giáo dục phổ thông đã có nhiều thay đổi, thầy Hải phải vừa dạy vừa tự học để thích nghi. Tuy nhiên, chỉ sau thời gian ngắn, thầy đã nhanh chóng bắt nhịp với công việc, đồng thời có nhiều sáng tạo trong thiết kế bài giảng, tổ chức hoạt động học tập nhằm khơi gợi hứng thú cho học sinh với môn Lịch sử.

Theo thầy Hải, dù từng công tác ở bậc mầm non nhưng bản thân luôn chủ động tự bồi dưỡng, cập nhật công nghệ. Thực tế, ở bậc học mầm non, việc số hóa bài giảng và tổ chức hoạt động giáo dục được thực hiện khá thường xuyên để tạo hứng thú cho trẻ. Những kỹ năng đó sau này trở thành lợi thế khi thầy quay lại giảng dạy THCS.

Ông Nguyễn Văn Hào - Hiệu trưởng Trường THCS Yên Khê, cho biết thêm hiện, trường có 6 giáo viên từng là giáo viên hợp đồng diện Thông tư 06, 09 ở bậc mầm non, sau đó trúng tuyển biên chế và quay trở lại dạy THCS. Dù đều ngoài 40 tuổi nhưng nhiều người rất tâm huyết, sáng tạo, thậm chí giữ vai trò tổ trưởng chuyên môn.

Để hỗ trợ giáo viên thích ứng với chuyển đổi số, nhà trường thường xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên môn cấp trường, cụm trường; đồng thời triển khai mô hình “1 kèm 1”, tức một giáo viên trẻ có năng lực công nghệ thông tin sẽ đồng hành, hỗ trợ một giáo viên lớn tuổi hơn. Nhờ đó, đến nay, giáo viên trong trường đều có thể đáp ứng từ mức cơ bản đến thành thạo các yêu cầu trong Khung năng lực số giáo viên do Bộ GD&ĐT ban hành.

Tuy nhiên, theo ông Hào, công nghệ luôn thay đổi nên giáo viên phải liên tục cập nhật để đáp ứng yêu cầu dạy học mới. Vì vậy, các trường vùng cao, khó khăn cần được tổ chức thường xuyên các đợt tập huấn, bồi dưỡng về năng lực số để giáo viên kịp thời tiếp cận kiến thức, kỹ năng mới.

“Hiện, nhà trường sử dụng gần 20 phần mềm, ứng dụng phục vụ công tác quản lý, chuyên môn, hành chính, tài chính và quản lý học sinh. Vì vậy, không chỉ giáo viên mà cả cán bộ quản lý phải thường xuyên tự đánh giá năng lực số của mình để tiếp tục học hỏi, nâng cao kỹ năng” - ông Nguyễn Văn Hào - Hiệu trưởng Trường THCS Yên Khê, cho biết.

Thích

Tin liên quan