
Diện tích rừng lớn tại Điện Biên sẽ được tận dụng để tạo ra thêm giá trị. Ảnh: Thành An
Dư địa lớn từ những cánh rừng
Điện Biên có hơn 434.600ha rừng, tỉ lệ che phủ 45,52%, trong đó hơn 427.700ha là rừng tự nhiên. Khoảng 326.000ha rừng nghèo và nghèo kiệt, vừa là thách thức vừa mở ra dư địa phục hồi, tăng khả năng hấp thụ carbon.
Theo các chuyên gia, Điện Biên có lợi thế ở hai hướng phát triển tín chỉ carbon rừng là REDD+ và AFP. Trong đó, REDD+ tập trung vào giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng, phù hợp với địa phương có diện tích rừng tự nhiên lớn.
Trong khi đó, AFP - canh tác nông, lâm kết hợp và cây phân tán - có thể gắn với định hướng phát triển nông nghiệp. Việc mở rộng các vùng trồng mắc ca, cà phê nếu được tổ chức phù hợp không chỉ tạo sản phẩm hàng hóa mà còn góp phần gia tăng khả năng hấp thụ carbon.
Cao Bằng có hơn 521.000ha đất lâm nghiệp, tỉ lệ che phủ rừng 54,06%, đang tìm hướng khai thác tín chỉ carbon để tăng giá trị tài nguyên rừng.
Nhiều tỉnh miền núi phía Bắc hiện có lợi thế tương tự, mở ra cơ hội liên kết vùng, tạo thêm nguồn lực bảo vệ rừng và phát triển kinh tế xanh.
Thực tế tại Việt Nam cho thấy, nguồn thu từ carbon không còn chỉ nằm trên lý thuyết. Năm 2023, Việt Nam lần đầu tiên bán thành công 10,3 triệu tín chỉ carbon rừng thông qua Ngân hàng Thế giới với giá 5 USD/tấn, thu về 51,5 triệu USD, tương đương khoảng 1.200 tỉ đồng.
Từ tiềm năng đến nguồn thu
Carbon không chỉ được tạo ra từ rừng. Mô hình tại xã Hợp Thành, Thái Nguyên cho thấy sản xuất nông nghiệp cũng có thể tham gia vào quá trình giảm phát thải và hình thành tín chỉ carbon.
Trong vụ xuân năm 2025, mô hình canh tác lúa thông minh ướt - khô xen kẽ được triển khai trên 12ha với 104 hộ tham gia. Năng suất đạt 6,79 tấn/ha, cao hơn 0,89 tấn/ha so với ruộng đối chứng. Phương thức này giúp giảm 30-40% chi phí giống, phân đạm, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới; lợi nhuận đạt 65,7 triệu đồng/ha, cao hơn 56% so với phương thức truyền thống.
Đáng chú ý, mô hình được cấp chứng nhận báo cáo giảm phát thải khí nhà kính với tổng lượng giảm 44,51 tấn carbon, tương đương giá trị kinh tế gần 17,4 triệu đồng.
Những kết quả trên cho thấy giảm phát thải có thể song hành với hiệu quả sản xuất.
Tại Điện Biên, tỉnh đang chuẩn bị xây dựng Đề án về kinh tế carbon. Ông Lê Xuân Cảnh - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh - thông tin, địa phương sẽ đánh giá toàn diện tiềm năng, khả năng gia tăng hấp thụ carbon, đồng thời xây dựng bản đồ tiềm năng carbon của toàn tỉnh. Trên cơ sở đó, tỉnh sẽ xác định danh mục các dự án có khả năng xây dựng và phát triển tín chỉ carbon.
Đây là bước quan trọng bởi muốn tham gia thị trường, địa phương phải chứng minh được lượng carbon thực sự được hấp thụ hoặc lượng phát thải được cắt giảm. Hệ thống dữ liệu về hiện trạng rừng, trữ lượng, sinh khối và carbon; công nghệ viễn thám, GIS, dữ liệu kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng sẽ là cơ sở để đo đạc, giám sát và bảo đảm tính minh bạch.
Một vấn đề khác có ý nghĩa quyết định là cơ chế phân chia lợi ích. Khi tín chỉ carbon trở thành nguồn thu, lợi ích cần được phân bổ hài hòa giữa Nhà nước, chủ rừng, cộng đồng, người dân và nhà đầu tư. Trong đó, người trực tiếp bảo vệ và phát triển rừng phải được hưởng lợi tương xứng.
Với hơn 434.600ha rừng của Điện Biên, hơn 521.000ha đất lâm nghiệp của Cao Bằng và những mô hình giảm phát thải trong nông nghiệp như tại Thái Nguyên, thị trường carbon đang cho thấy dư địa mở rộng từ rừng tự nhiên, rừng trồng đến sản xuất nông nghiệp.
Chặng đường từ “tiềm năng carbon” đến “tín chỉ có thể giao dịch” còn nhiều bước, nhưng nếu giải quyết được bài toán dữ liệu, dự án, nguồn lực và chia sẻ lợi ích, carbon có thể trở thành một phần quan trọng của kinh tế rừng và nông nghiệp xanh.
Khi ấy, những cánh rừng vùng cao không chỉ được nhìn nhận qua diện tích hay trữ lượng, mà còn qua lượng carbon được lưu giữ - một giá trị mới có thể góp phần bảo vệ rừng, tạo sinh kế và thúc đẩy tăng trưởng xanh.


