Vay mượn hàng chục tỉ đồng không hợp đồng
Ngày 29.5, TAND TP Đà Nẵng sẽ mở phiên tòa xét xử bị cáo (Lê Thị Nhạn, 42 tuổi, trú phường Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng) về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Vụ án thu hút sự chú ý bởi số tiền tranh chấp lên đến hơn 40,8 tỉ đồng, nhưng không có hợp đồng vay mượn.
Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân TP Đà Nẵng ngày 3.2.2026, bà Lê Thị Nhạn và bà T.T.H (43 tuổi, trú phường Hòa Xuân, Đà Nẵng) quen biết nhau từ năm 2018 thông qua hoạt động kinh doanh bất động sản. Từ tháng 4.2019 đến tháng 7.2020, bà H nhiều lần cho bà Nhạn mượn tiền, bằng hình thức chuyển khoản và giao tiền mặt.
Đáng chú ý, dù số tiền giao dịch rất lớn, nhưng quá trình vay mượn ban đầu chủ yếu được hai bên trao đổi qua điện thoại, tin nhắn mạng xã hội, không lập hợp đồng hoặc văn bản xác nhận tại từng thời điểm giao nhận tiền.

Ngày 29.8.2020, bà H cùng chồng và chị gái đến nhà riêng của bà Nhạn để chốt các khoản tiền còn nợ. Tại đây, bà Trần Thị Hg, chị ruột bà H, viết tay 5 giấy mượn tiền để bà H và bà Nhạn cùng ký. Chồng bà H ký vào các giấy này với tư cách người làm chứng.
Theo 5 giấy nợ, các khoản mượn tiền được ghi nhận trong nhiều thời điểm, từ ngày 15.7.2019 đến ngày 5.2.2020, mỗi lần từ 3,5 tỉ đồng đến 14 tỉ đồng, lãi suất từ 5-7,5%/tháng. Tổng số tiền ghi trên 5 giấy nợ là hơn 40,8 tỉ đồng.
Cáo trạng xác định, trong giai đoạn trên, bà H đã cho bà Nhạn mượn tổng cộng 101,2 tỉ đồng. Bà Nhạn đã trả lại 73,8 tỉ đồng, gồm 60,4 tỉ đồng tiền gốc và 13,4 tỉ đồng tiền lãi. Số tiền gốc còn lại bị cáo bị cáo buộc chưa trả là hơn 40,8 tỉ đồng, trùng với tổng số tiền trên 5 giấy nợ.
Do bà Nhạn không trả nợ đúng hạn, ngày 26.10.2020, bà H khởi kiện dân sự ra tòa, yêu cầu trả tiền. Trong quá trình tòa án giải quyết, bà Nhạn có đơn tố cáo bà H cùng chồng và chị gái về hành vi cưỡng đoạt tài sản, cho rằng mình bị đe dọa, ép ký 5 giấy mượn tiền, đồng thời tố cáo có dấu hiệu cho vay lãi nặng.
Vụ việc sau đó được tòa án chuyển sang Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Đà Nẵng để giải quyết theo thẩm quyền. Về phía bà H, sau khi cho rằng bà Nhạn không trả tiền và có đơn tố cáo mình, bà H cũng gửi đơn tố cáo bà Nhạn về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Cơ quan điều tra xác định, đến ngày 28.7.2020, bà Nhạn vẫn còn nợ bà H hơn 40,8 tỉ đồng. Tuy nhiên, theo cáo buộc, bị cáo đã xóa tin nhắn trao đổi vay mượn, đưa ra thông tin gian dối rằng đã trả hết tiền, đồng thời ký đơn có nội dung sai sự thật về 5 giấy mượn tiền nhằm tố cáo bà H, qua đó chiếm đoạt số tiền hơn 40,8 tỉ đồng.
Từ kết quả điều tra, VKS truy tố bà Lê Thị Nhạn về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tranh luận về chứng cứ và quyền tố cáo
Sau khi nhận kết luận điều tra và cáo trạng, gia đình bà Nhạn có đơn gửi cơ quan báo chí, cho rằng vụ việc có dấu hiệu hình sự hóa quan hệ kinh tế, dân sự.
Theo gia đình bị cáo, kết luận điều tra quy kết bà Nhạn mượn hơn 40,8 tỉ đồng nhưng chưa làm rõ đầy đủ thời gian, địa điểm, số lần giao nhận tiền, số tiền cụ thể từng lần giao nhận. Phía gia đình cho rằng việc buộc tội chủ yếu dựa vào lời khai của bà H và một số người làm chứng.
Gia đình bà Nhạn cũng không đồng tình với quan điểm cho rằng việc bà Nhạn tố cáo bà H là “thủ đoạn gian dối” nhằm chiếm đoạt tài sản. Theo họ, tố cáo là quyền của công dân được pháp luật bảo vệ; việc một người gửi đơn tố cáo cần được xác minh đúng sai, không nên mặc nhiên xem là hành vi gian dối.
Một điểm khác được phía bị cáo nêu ra là trong quá trình xử lý vụ kiện đòi tiền do bà H khởi kiện, TAND quận Ngũ Hành Sơn cũ nhận thấy có dấu hiệu hình sự nên đã chuyển hồ sơ sang cơ quan công an để điều tra. Sau đó, hai bên đều có đơn tố cáo lẫn nhau.
Phía gia đình bà Nhạn khẳng định đến nay các bên vẫn chưa thống nhất được số tiền vay mượn thực tế. Gia đình cũng cho rằng trong suốt quá trình vụ việc, bà Nhạn không bỏ trốn và có khả năng trả nợ.
Luật sư: Cần làm rõ toàn bộ quá trình giao dịch
Trao đổi với phóng viên, luật sư Nguyễn Thị Thanh Thế, Đoàn Luật sư TPHCM, cho rằng theo kết luận điều tra và cáo trạng, lời khai giữa bà Nhạn và bà H còn có điểm bất nhất, đặc biệt liên quan đến việc giao nhận tiền mặt với số tiền rất lớn.
“Việc không chứng minh rõ thời gian, địa điểm giao nhận, số lần giao nhận, số tiền từng lần mà chủ yếu dựa vào lời khai, tin nhắn do một bên cung cấp và lời khai của người làm chứng có quan hệ với bên cho vay sẽ khó bảo đảm tính thuyết phục trong việc buộc tội”, luật sư Thế nêu quan điểm.
Đối với việc bà Nhạn tố giác tội phạm, luật sư cho rằng đây là quyền công dân. Vì vậy, cần thận trọng khi đánh giá hành vi này là thủ đoạn gian dối. Thay vào đó, cơ quan tố tụng cần xem xét toàn diện nội dung tố cáo, làm rõ tố cáo có căn cứ hay không, trước khi xác định bản chất pháp lý của vụ án.
Bị cáo bị “quỵt nợ” hơn 104 tỉ đồng trong một vụ án khác
Trong thời gian xảy ra quan hệ vay mượn giữa bà H và bà Nhạn, hồ sơ thể hiện bà Nhạn cũng cho bà Đào Thị Như Lệ, trú TP Đà Nẵng, vay số tiền 104,1 tỉ đồng.
Sau đó, do bà Lệ không trả tiền đúng hạn, bà Nhạn khởi kiện dân sự ra TAND quận Sơn Trà cũ. Tại phiên tòa, bà Lệ không thừa nhận khoản nợ và cho rằng việc viết giấy nợ là do bị bà Nhạn uy hiếp.
Tuy nhiên, căn cứ tài liệu, chứng cứ trong vụ án, hội đồng xét xử nhận định việc bà Lệ mượn tiền của bà Nhạn là có căn cứ, từ đó tuyên buộc bà Lệ phải trả cho bà Nhạn 104,1 tỉ đồng. Bản án dân sự sơ thẩm này đã có hiệu lực pháp luật, nhưng đến nay bà Lệ vẫn chưa trả số tiền trên.
Bà Lệ hiện đang chấp hành án chung thân trong một vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản khác.

